Cựu chiến binh

Nguyễn Văn Khánh

Đắk Lắk24/12/2025Trần Nguyễn Bảo An (Đoàn xã Ea Drăng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nguyễn Văn Khánh

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

Có những con người không bước ra từ sách sử, nhưng chính cuộc đời họ lại là một trang sử sống. Có những hy sinh không được khắc tên trên bia đá, nhưng âm thầm nâng đỡ cả một thời đại. Với tôi, ông ngoại chính là một con người như thế một người thầy, một người lính, và là niềm tự hào lặng lẽ mà sâu xa nhất trong trái tim tôi.

Tuổi trẻ của ông tôi không gắn với những tháng ngày yên bình nơi bục giảng, mà gắn liền với khói lửa chiến tranh. Ông đi dạy học giữa những năm tháng đất nước bị bom đạn cày xới. Từ Thuận Lộc, Kim Lộc đến Đồng Lộc những vùng đất chỉ nghe tên thôi cũng đã thấy mùi khét của bom rơi, mùi đất đá cháy sém. Lớp học của ông không có bảng đen phấn trắng đủ đầy, mà nằm trong hang đá, bên khe suối, nơi tiếng giảng bài nhiều khi phải nhường chỗ cho tiếng máy bay gầm rú trên đầu. Có lẽ cũng bởi vậy mà sau này, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà một người học trò cũ vẫn luôn nhắc đến ông với sự kính trọng.

Có những năm tháng, ông dạy học suốt ba năm trời trong hang sâu. Giữa bóng tối ẩm lạnh của đá núi, ánh sáng tri thức vẫn được thắp lên từ giọng nói của người thầy. Ông dạy chữ cho học trò, nhưng cũng dạy các em cách đứng vững trước sợ hãi, cách tin vào ngày mai tươi sáng giữa hiện tại đầy bom đạn. Mỗi người khi ấy, như ông kể, phải “gánh” trung bình ba quả bom gánh bằng chính sự sống mong manh của mình.

Chiến tranh không chỉ cướp đi nhà cửa, mà còn cướp đi con người. Ông tôi từng bị thương nặng, từng mất nhà, từng tận mắt chứng kiến đồng đội, học trò ngã xuống. Có lần, bom trút xuống, bảy con người vĩnh viễn không trở về. Có những cái chết đến nhanh đến mức không kịp gọi tên nhau lần cuối. Nỗi đau ấy không thành tiếng khóc, mà lặng lẽ hằn sâu trong ánh mắt người sống sót.

Nhưng trong tận cùng mất mát, ông tôi vẫn chọn cứu người. Ông cùng đồng đội tham gia cứu chữa cho dân công đoàn 559 những con người lặng lẽ vận chuyển hàng hóa chi viện cho miền Nam. Có đêm lúc hai giờ sáng, bom đánh trúng cầu 19, ngọn lửa bùng lên trong bóng tối. Một chiếc xe cháy rực, hai người bị thiêu, một người chỉ còn lại đôi chân. Giữa lằn ranh sinh tử ấy, ông tôi có mặt, không phải với súng đạn, mà với thuốc men và đôi tay run rẩy vì thương xót.

Đồng Lộc nơi ông từng dạy là yết hầu của tuyến vận chuyển chiến lược. Đó là con đường buộc phải đi qua để miền Nam được tiếp máu. Mỗi giáo viên là một chiến sĩ; Mỗi lớp học, mỗi người thầy là một tủ thuốc, lúc nào cũng mang theo bên mình, bởi không ai biết bom sẽ rơi lúc nào. Có buổi tan học lúc mười một giờ trưa, bom lại thả. Thuốc của cả lớp được mang ra cứu người, nhưng cuối cùng vẫn không giữ được bảy sinh mạng. Những con số ấy, với lịch sử có thể là dữ kiện, nhưng với ông tôi, đó là từng gương mặt, từng số phận không bao giờ quên.

Năm 1966, ông được kết nạp Đảng. Đó không chỉ là một cột mốc chính trị, mà là sự ghi nhận cho một con người đã sống trọn vẹn với lý tưởng. Vì tinh thần dũng cảm và tận tụy, ông được cấp trên phân công đến những nơi gian khổ nhất. Đến năm 1992, ông về hưu, khép lại một đời cống hiến thầm lặng, với tấm huân chương kháng chiến hạng nhì không lấp lánh nhưng đầy giá trị.

Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa. Ông tôi ngồi trước hiên nhà, kể chuyện bằng giọng trầm chậm, như sợ làm đau lại những ký ức cũ. Tôi lắng nghe và hiểu rằng: hòa bình mà tôi đang sống được đánh đổi bằng máu, bằng nước mắt, bằng tuổi trẻ của những con người như ông.

Tôi tự hào khi được gọi ông là ông ngoại. Tự hào vì ông không chỉ dạy chữ cho học trò, mà dạy cả một thế hệ cách yêu nước bằng sự hy sinh. Cuộc đời ông là ngọn lửa âm ỉ cháy giữa bão bom, không rực rỡ phô trương, nhưng đủ để soi sáng con đường tôi đi. Và trong sâu thẳm trái tim mình, tôi biết: được là cháu của ông, đó là một may mắn lớn lao.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn