NGUYỄN VĂN NHƯỜNG – NGƯỜI ANH HÙNG KIÊN CƯỜNG GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA
NGUYỄN VĂN NHƯỜNG – NGƯỜI ANH HÙNG KIÊN CƯỜNG GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA
Nguyễn Văn Nhường sinh năm 1948, quê ở xã Cầu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Tháng 9-1965, khi mới 17 tuổi, ông nhập ngũ và bắt đầu cuộc đời người chiến sĩ. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nguyễn Văn Nhường chiến đấu trong lực lượng phòng không và từng đảm nhiệm cương vị Chính trị viên trưởng Đại đội SM12,7mm thuộc Đoàn 95c, đơn vị sau này thuộc Trung đoàn Bộ binh 3, Sư đoàn Bộ binh 9. Trưởng thành qua chiến đấu, ông được đồng đội biết đến là một cán bộ có ý chí chiến đấu cao, luôn bình tĩnh, linh hoạt và kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ trong những tình huống đặc biệt khó khăn.
Trên chiến trường, Nguyễn Văn Nhường đã tham gia hàng trăm trận chiến đấu. Có những trận chiến diễn ra trong điều kiện hết sức ác liệt, trận địa liên tục bị đối phương đánh phá. Trong một lần chiến đấu, ông bị thương và bị bom vùi trong công sự. Sau khi được đồng đội cứu lên, ông vẫn tiếp tục trở lại trận địa, động viên cán bộ, chiến sĩ giữ vững vị trí chiến đấu. Tinh thần ấy thể hiện rõ phẩm chất của một người cán bộ luôn đặt nhiệm vụ chung và sự an toàn của đồng đội lên hàng đầu.
Trong quá trình chiến đấu, Nguyễn Văn Nhường lập nhiều thành tích nổi bật. Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, ông đã tham gia 175 trận chiến đấu, trực tiếp lập nhiều chiến công và nhiều lần được tuyên dương danh hiệu Dũng sĩ. Những thành tích đó không phải là kết quả của một trận đánh đơn lẻ mà được tích lũy qua nhiều năm chiến đấu trên những chiến trường khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Một trong những dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời chiến đấu của Nguyễn Văn Nhường diễn ra trong Chiến dịch Đông Bắc Campuchia năm 1969. Trong một trận chiến đấu, lực lượng đối phương sử dụng xe tăng tiến vào khu vực trận địa của đơn vị. Trước tình huống nguy hiểm, Nguyễn Văn Nhường vẫn bình tĩnh tổ chức chống trả, trực tiếp tham gia chiến đấu và góp phần ngăn chặn cuộc tiến công. Sau trận đánh, lực lượng của ông tiếp tục giữ vững trận địa. Chiến công trong những trận đánh như vậy góp phần thể hiện bản lĩnh của người cán bộ đã được tôi luyện qua nhiều năm chiến đấu.
Không chỉ có thành tích trên chiến trường, Nguyễn Văn Nhường còn nhiều năm liên tục là Chiến sĩ Thi đua cấp Trung đoàn và Sư đoàn. Ông hai lần được lựa chọn tham dự và báo cáo điển hình tại Đại hội Chiến sĩ thi đua, Anh hùng toàn miền Nam vào các năm 1969 và 1971. Những ghi nhận ấy cho thấy ông không chỉ là một chiến sĩ có thành tích chiến đấu mà còn là một cán bộ tiêu biểu trong phong trào thi đua của lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất, Nguyễn Văn Nhường tiếp tục công tác trong quân đội, gắn bó với đơn vị và địa phương. Những năm tháng chiến tranh đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc đời ông. Ông luôn gìn giữ những kỷ vật gắn với quá trình chiến đấu và công tác của mình, sau này trao tặng cho bảo tàng để phục vụ việc nghiên cứu, bảo tồn và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Đối với ông, những kỷ vật ấy không chỉ là tài sản cá nhân mà còn là một phần ký ức của cả một thế hệ đã trải qua chiến tranh.
Ngày 28-5-2010, Nguyễn Văn Nhường được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là sự ghi nhận đối với những thành tích đặc biệt xuất sắc của ông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 2010, ông cũng được lựa chọn là một trong những anh hùng, Mẹ Việt Nam Anh hùng tiêu biểu được giới thiệu trong chương trình “Thăng Long hồn thiêng sông núi” nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Cuộc đời Nguyễn Văn Nhường là câu chuyện về một người thanh niên Thanh Hóa nhập ngũ khi còn rất trẻ, trưởng thành qua chiến đấu và dành những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Từ một chiến sĩ trẻ năm 1965 đến người cán bộ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, hành trình của ông gắn với sự kiên cường, tinh thần trách nhiệm và ý chí vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt. Những đóng góp ấy góp thêm một trang vào lịch sử của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và là câu chuyện có ý nghĩa giáo dục truyền thống đối với thế hệ trẻ hôm nay.



