Nguyễn Văn Sáu – Người chính trị viên dẫn đầu mũi thọc sâu vào Tân Sơn Nhất và “dáng đứng” giữa đường băng
Nguyễn Văn Sáu (1937–1968) quê ở thôn Liên Hưng, xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa. Ông nhập ngũ năm 1959, chiến đấu và làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào từ năm 1959 đến 1964, sau đó về nước, bổ sung vào Sư đoàn 304. Năm 1967, ông cùng đơn vị vào chiến trường miền Nam. Đến năm 1968, ông là Đại úy, Chính trị viên Tiểu đoàn 16, Phân khu 2 – Long An. Rạng sáng 31/1/1968, trong đợt đầu Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Tiểu đoàn 16 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất từ hướng Tây Nam. Nguyễn Văn Sáu trực tiếp dẫn mũi chủ công thọc sâu vào sân bay, vượt qua hàng rào và tham gia đánh lô cốt đầu cầu. Ông bị thương nặng nhưng không rút lui, tiếp tục chiến đấu cho đến khi hy sinh. Năm 2013, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
Thời kỳ lịch sử
Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – giai đoạn 1959–1968, đặc biệt là Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và trận đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất rạng sáng 31/1/1968. Đây là thời điểm chiến trường miền Nam bước vào một cuộc tiến công quy mô lớn nhằm vào nhiều đô thị và căn cứ quân sự quan trọng.
1. Người con của Liên Hưng
Nguyễn Văn Sáu sinh năm 1937, tại thôn Liên Hưng, xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa.
Đó là một vùng quê trung du – miền núi của xứ Thanh, nơi những thanh niên cùng thế hệ ông lớn lên trong những năm đất nước liên tục trải qua chiến tranh.
Nguyễn Văn Sáu trưởng thành trong một thời đại mà việc cầm súng bảo vệ đất nước trở thành lựa chọn của cả một thế hệ.
Năm 1959, khi mới ngoài hai mươi tuổi, ông nhập ngũ.
Từ đây, cuộc đời người thanh niên Liên Hưng gắn với quân đội.
5
Chú thích: Quê hương Thạch Thành, Thanh Hóa – nơi Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Sáu sinh năm 1937.
Nguồn: Tư liệu tiểu sử Nguyễn Văn Sáu của Tri ân liệt sĩ và Tiền Phong.
2. Sáu năm chiến đấu trên đất Lào
Từ 1959 đến 1964, Nguyễn Văn Sáu làm nhiệm vụ quốc tế và trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Lào.
Đây là quãng thời gian có ý nghĩa đặc biệt đối với một người lính trẻ.
Ông không chỉ học cách chiến đấu.
Ông còn học cách tổ chức đơn vị, làm công tác chính trị, giữ vững tinh thần chiến đấu của bộ đội trong những hoàn cảnh khắc nghiệt.
Sau sáu năm ở chiến trường Lào, Nguyễn Văn Sáu trở về Việt Nam.
Nhưng ông chưa có một cuộc sống bình thường.
Chiến tranh vẫn đang tiếp diễn.
Và nơi ông được điều đến tiếp theo là một chiến trường còn khốc liệt hơn.
5
Chú thích: Bộ đội Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào trong những năm kháng chiến chống Mỹ; ảnh minh họa bối cảnh chiến trường của Nguyễn Văn Sáu giai đoạn 1959–1964.
Nguồn: Tư liệu lịch sử về Nguyễn Văn Sáu và chiến trường Lào.
3. Năm 1965 – trở về Sư đoàn 304
Năm 1965, Nguyễn Văn Sáu được điều động về nước và bổ sung vào Sư đoàn 304, Quân khu 3.
Sư đoàn 304 là một đơn vị chủ lực có nhiều năm chiến đấu.
Tại đây, người lính từng trải qua chiến trường Lào tiếp tục được rèn luyện trong môi trường của một đơn vị chủ lực.
Ba năm sau, chiến trường miền Nam cần thêm những đơn vị có kinh nghiệm.
Năm 1967, Nguyễn Văn Sáu cùng đơn vị hành quân vào Nam.
Địa bàn hoạt động của ông sau đó là:
Tây Ninh – Long An – Sài Gòn.
Chú thích: Bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam trong những năm 1967–1968; ảnh minh họa bối cảnh hành quân của Nguyễn Văn Sáu và Tiểu đoàn 16.
Nguồn: Tư liệu về Nguyễn Văn Sáu và Tiểu đoàn 16.
4. Tiểu đoàn 16 – đơn vị đặc biệt tinh nhuệ
Tiểu đoàn 16, Phân khu 2 – Long An được thành lập từ tháng 7/1967 và tồn tại chưa đầy bốn năm.
Trong thời gian đó, đơn vị tham gia hàng trăm trận đánh.
Đặc biệt, Tiểu đoàn 16 được giao những nhiệm vụ rất khó khăn tại khu vực Sài Gòn – Gia Định.
Đến năm 1968, Nguyễn Văn Sáu giữ chức:
Đại úy – Chính trị viên Tiểu đoàn 16.
Chính trị viên không phải người chỉ làm công tác tuyên truyền.
Trong chiến đấu, người chính trị viên phải có mặt cùng bộ đội, giữ vững tinh thần và ý chí chiến đấu của đơn vị.
Với Nguyễn Văn Sáu, điều ấy có nghĩa:
nếu bộ đội đi vào nơi nguy hiểm nhất, ông cũng đi vào đó.
Chú thích: Cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 – đơn vị tham gia trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất Tết Mậu Thân 1968.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân và Dân Trí.
5. Mục tiêu: sân bay Tân Sơn Nhất
Đầu năm 1968, kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy được triển khai.
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất ở Sài Gòn là sân bay Tân Sơn Nhất.
Đây không chỉ là sân bay.
Đó còn là một căn cứ quân sự lớn, nơi có lực lượng không quân và các cơ quan chỉ huy quan trọng.
Tiểu đoàn 16 được giao nhiệm vụ tiến công từ hướng Tây Nam.
Mũi chủ công do Tiểu đoàn trưởng Nam Sơn và Chính trị viên Nguyễn Văn Sáu chỉ huy.
Họ phải thọc sâu vào một trong những khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt nhất Sài Gòn.
Chú thích: Sân bay Tân Sơn Nhất trong thời kỳ chiến tranh; đây là mục tiêu của Tiểu đoàn 16 trong đợt đầu Tổng tiến công Mậu Thân 1968.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân và tư liệu về trận đánh Tân Sơn Nhất.
6. Rạng sáng 31/1/1968 – hàng rào trước mặt
Theo kế hoạch, hỏa lực pháo binh sẽ bắn vào sân bay làm hiệu lệnh tiến công.
Nhưng kế hoạch không diễn ra như dự kiến.
Pháo binh ĐKB không thể khai hỏa vào sân bay đúng giờ.
Bộ chỉ huy Phân khu 2 phải sử dụng cối 82mm.
Tiểu đoàn 16 chỉ bắn được 24 quả đạn rồi hết đạn.
Phía trước vẫn là sân bay Tân Sơn Nhất.
Và hàng rào.
Những bãi mìn.
Các lô cốt.
Những vị trí phòng thủ.
Không có màn pháo chuẩn bị như dự kiến.
Nhưng mũi chủ công vẫn tiến lên.
Chú thích: Khu vực phòng thủ sân bay Tân Sơn Nhất thời chiến; ảnh minh họa địa hình và hệ thống bảo vệ mà Tiểu đoàn 16 phải vượt qua.
Nguồn: Tư liệu về trận đánh Tân Sơn Nhất của Báo Quân đội nhân dân.
7. Người chính trị viên đi đầu
Có một chi tiết rất đáng nhớ về Nguyễn Văn Sáu.
Trước trận đánh, ông cùng Tiểu đoàn trưởng Nam Sơn tiến sát hàng rào để trinh sát.
Bên trong sân bay có những chiếc xe thiết giáp.
Trước đó, bộ đội được thông báo rằng có khả năng sẽ có lực lượng phản chiến trong hàng ngũ đối phương.
Vì vậy, những dấu hiệu như cờ xanh, đèn xanh có ý nghĩa đặc biệt.
Nguyễn Văn Sáu nhắc bộ đội phải nhớ kỹ:
không bắn nhầm lực lượng có dấu hiệu binh biến.
Đó là công việc của một người chỉ huy.
Nhưng khi trận đánh bắt đầu, ông không đứng ở phía sau.
Ông đi cùng mũi chủ công.
Chú thích: Tái hiện hướng tiến công của Tiểu đoàn 16 vào sân bay Tân Sơn Nhất từ phía Tây Nam trong đợt đầu Mậu Thân 1968.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân và tư liệu của cựu chiến binh Tiểu đoàn 16.
8. Cắt hàng rào – mở đường vào sân bay
Trinh sát và đặc công dẫn đường.
Dây thép gai được cắt.
Các bãi mìn được vượt qua.
Những người lính lần lượt tiến sát hàng rào cuối cùng.
Phía bên kia là sân bay.
Phía sau họ là đồng đội.
Phía trước là hệ thống phòng thủ.
Không còn nhiều khoảng cách để lựa chọn.
Mũi chủ công phải đánh thẳng vào.
Và người dẫn đầu mũi tiến công là chính trị viên Nguyễn Văn Sáu.
9. Lô cốt đầu cầu OF 51
Mũi tiến công chạm phải lô cốt đầu cầu OF 51.
Đây là một vị trí phòng thủ quan trọng.
Nguyễn Văn Sáu chỉ huy bộ đội đánh vào.
Theo các tư liệu về ông, chính trị viên Tiểu đoàn 16 đã nổ phát súng đầu tiên, băng qua hàng rào dây thép gai và cùng bộ đội đánh lô cốt, tiêu diệt một tiểu đội lính Mỹ tại vị trí này.
Đây là thời điểm mà chức vụ không còn quan trọng.
Chính trị viên hay chiến sĩ.
Cán bộ hay chiến sĩ.
Tất cả đều phải chiến đấu.
Và Nguyễn Văn Sáu ở ngay phía trước.
Chú thích: Vị trí lô cốt đầu cầu trong khu vực Tân Sơn Nhất được các tư liệu cựu chiến binh nhắc đến trong trận đánh của Tiểu đoàn 16.
Nguồn: Tri ân liệt sĩ, Tiền Phong và Dân Trí.
10. Bị thương nhưng không rời trận địa
Trong trận đánh, Nguyễn Văn Sáu bị thương ở chân.
Với một người bị thương như vậy, lựa chọn thông thường là rút ra phía sau.
Nhưng ông không rút.
Một cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 kể rằng Nguyễn Văn Sáu đã giao sắc cốt chứa tài liệu cho chiến sĩ liên lạc đưa về bộ chỉ huy, rồi tiếp tục ở lại chiến đấu.
Chi tiết ấy rất đáng chú ý.
Ông biết mình bị thương.
Biết tình hình cực kỳ nguy hiểm.
Nhưng trước khi tiếp tục chiến đấu, ông vẫn bảo đảm những tài liệu quan trọng của đơn vị không rơi vào tay đối phương.
Sau đó, ông lại quay về phía trận địa.
Chú thích: Tái hiện cuộc chiến đấu của lực lượng giải phóng tại Tân Sơn Nhất trong Tổng tiến công Mậu Thân 1968.
Nguồn: Tư liệu Dân Trí và Báo Quân đội nhân dân về Tiểu đoàn 16.
11. Không còn đường lui
Trận đánh càng kéo dài, thương vong càng lớn.
Hai đại đội của Tiểu đoàn 16 đã thọc sâu vào sân bay.
Nhưng lực lượng bị tổn thất khủng khiếp.
Theo lời kể của các cựu chiến binh, trong trận đánh này 380 cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 16 đã nằm lại.
Đó là con số khiến người ta có thể hình dung mức độ khốc liệt của trận chiến.
Nhưng trong những giờ phút ấy, từng người lính không biết được mình sẽ nằm trong con số nào.
Nguyễn Văn Sáu vẫn ở lại.
Ông tiếp tục chỉ huy.
Tiếp tục chiến đấu.
Cho đến khi vết thương trở nên quá nặng.
Chú thích: Khu mộ tập thể các cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong trận đánh Tân Sơn Nhất Tết Mậu Thân 1968.
Nguồn: Dân Trí và tư liệu về Tiểu đoàn 16.
12. Hình ảnh người chiến sĩ vẫn đứng
Đây là đoạn lịch sử gắn Nguyễn Văn Sáu với bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”.
Một số tư liệu kể rằng sau khi bị thương, Nguyễn Văn Sáu vẫn tì súng vào xác máy bay hoặc trực thăng để tiếp tục bắn.
Rồi ông hy sinh.
Hình ảnh ấy được liên hệ với những câu thơ nổi tiếng của Lê Anh Xuân về người chiến sĩ đứng giữa đường băng Tân Sơn Nhất.
Nhưng cần nhấn mạnh:
không có sự thống nhất tuyệt đối về nguyên mẫu duy nhất của bài thơ.
Các nghiên cứu gần đây cho rằng Nguyễn Công Mẹo là nguyên mẫu trực tiếp nổi bật của hình tượng “dáng đứng”; Nguyễn Văn Sáu là một trong những người chiến đấu và hy sinh trong chính trận đánh đã tạo nên cảm hứng cho bài thơ.
Chú thích: Nhà thơ – liệt sĩ Lê Anh Xuân và bối cảnh đường băng Tân Sơn Nhất, nơi hình tượng “Dáng đứng Việt Nam” ra đời.
Nguồn: Báo Cựu chiến binh Việt Nam, HTV và các tư liệu nghiên cứu về nguyên mẫu bài thơ.
13. Nguyễn Văn Sáu – một trong những người tạo nên “Dáng đứng”
Điều quan trọng không phải là tranh luận ai “độc quyền” hình tượng trong bài thơ.
Điều quan trọng hơn là:
Nguyễn Văn Sáu thực sự đã có mặt trong trận đánh.
Ông thực sự dẫn quân vào Tân Sơn Nhất.
Thực sự bị thương.
Thực sự không rời trận địa.
Và thực sự hy sinh.
Chính vì thế, hình tượng người chiến sĩ đứng giữa đường băng đã trở thành một biểu tượng lớn hơn một cá nhân.
Nó là hình ảnh của cả một thế hệ.
Những người bước vào trận đánh mà biết rằng khả năng trở về rất nhỏ.
Chú thích: Cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 trong các hoạt động tưởng niệm và kể lại trận đánh Tân Sơn Nhất.
Nguồn: Báo Cựu chiến binh Việt Nam và Báo Quân đội nhân dân.
14. Người lính 29 tuổi nằm lại Tân Sơn Nhất
Nguyễn Văn Sáu hy sinh trong trận đánh rạng sáng 31/1/1968.
Ông mới 31 tuổi nếu tính từ năm sinh 1937 đến năm 1968.
Một số tài liệu thứ cấp gọi ông là 29 tuổi, nhưng mốc sinh 1937 và năm hy sinh 1968 cho thấy cách tính đó không thống nhất. Vì vậy, nên dùng mốc tuổi theo năm sinh thay vì khẳng định “29 tuổi”.
Ông không trở về Thanh Hóa.
Không gặp lại gia đình.
Không chứng kiến chiến tranh kết thúc.
Nhưng tên ông ở lại với Tiểu đoàn 16.
Và nhiều năm sau, Nhà nước đã ghi nhận sự hy sinh của người chính trị viên ấy.
Chú thích: Hình ảnh tư liệu về Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Sáu, Chính trị viên Tiểu đoàn 16.
Nguồn: Tiền Phong và Tri ân liệt sĩ.
15. 380 người nằm lại
Trận đánh Tân Sơn Nhất đã trở thành một trong những trận chiến bi tráng nhất của Tiểu đoàn 16.
Theo lời các cựu chiến binh, đơn vị có 380 cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong trận đánh. Một phần thi hài được tìm thấy sau chiến tranh; trong đó có một mộ tập thể quy tập 181 liệt sĩ.
Những con số ấy không chỉ nói về tổn thất.
Nó nói về cái giá của cuộc chiến.
Mỗi con số là một người.
Một gia đình.
Một quê hương.
Một người mẹ chờ con.
Một người vợ chờ chồng.
Một đứa trẻ lớn lên mà không còn cha.
Và Nguyễn Văn Sáu là một trong số những người nằm lại ở đó.
Chú thích: Mộ tập thể các liệt sĩ Tiểu đoàn 16 hy sinh trong trận đánh Tân Sơn Nhất Tết Mậu Thân 1968.
Nguồn: Dân Trí và Văn nghệ Tây Ninh.
16. 45 năm sau – tên người chính trị viên được gọi lại
Nguyễn Văn Sáu hy sinh năm 1968.
45 năm sau, năm 2013, tên ông được nhắc lại trong một sự kiện đặc biệt.
Chủ tịch nước truy tặng ông danh hiệu:
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cùng thời điểm, Tiểu đoàn 16 cũng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Lễ đón nhận được tổ chức trong tháng 8/2013.
Đó là sự ghi nhận đến muộn.
Nhưng không quá muộn để thế hệ sau biết rằng:
đã từng có một chính trị viên mang quân hàm Đại úy dẫn bộ đội đánh thẳng vào Tân Sơn Nhất trong đêm Mậu Thân.
Chú thích: Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND truy tặng liệt sĩ Nguyễn Văn Sáu và phong tặng Tiểu đoàn 16 năm 2013.
Nguồn: Tiền Phong, Báo Cựu chiến binh Việt Nam.
17. “Dáng đứng Việt Nam” – từ một người thành biểu tượng
Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân đã vượt ra ngoài câu chuyện của một trận đánh.
Nó trở thành một biểu tượng về người chiến sĩ Việt Nam.
Hình ảnh người lính:
không có tên, không có địa chỉ,
nhưng để lại một tư thế không thể quên.
Trong lịch sử nghiên cứu bài thơ, Nguyễn Văn Sáu thường được nhắc tới như một trong những người góp phần tạo nên hình tượng ấy.
Nhưng ngày nay, cần kể câu chuyện thận trọng hơn:
Nguyễn Văn Sáu là người thật của trận đánh; “dáng đứng” trong thơ là hình tượng nghệ thuật được hình thành từ những câu chuyện hy sinh có thật của nhiều chiến sĩ.
Trong số đó, Nguyễn Công Mẹo hiện được nhiều nguồn xác định là nguyên mẫu trực tiếp nổi bật.
Chú thích: Nhà thơ – liệt sĩ Lê Anh Xuân và tư liệu gắn với bài thơ Dáng đứng Việt Nam.
Nguồn: Các tư liệu về Lê Anh Xuân và nguyên mẫu bài thơ.
18. Người chính trị viên không đứng phía sau
Có lẽ điểm đáng nhớ nhất trong câu chuyện Nguyễn Văn Sáu không nằm ở chức vụ.
Mà nằm ở lựa chọn.
Ông có thể đứng sau để chỉ huy.
Nhưng ông đi cùng mũi chủ công.
Ông có thể rút khi bị thương.
Nhưng ông ở lại.
Ông có thể giao nhiệm vụ cho cấp dưới.
Nhưng ông trực tiếp tiến vào lô cốt.
Và cuối cùng, ông hy sinh cùng những người lính của mình.
Một cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 từng kể rằng nếu Nguyễn Văn Sáu muốn, ông hoàn toàn có thể ở phía sau để chỉ huy; nhưng ông đã dẫn đầu đơn vị thọc sâu vào sân bay.
Đó chính là phẩm chất của một người chỉ huy chiến đấu.
Chú thích: Cựu chiến binh Tiểu đoàn 16 kể lại trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất năm 1968.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân, Dân Trí và HTV.
Lời kết – Người đứng lại giữa đường băng
Rạng sáng 31/1/1968, Sài Gòn bước vào một trong những đêm dữ dội nhất của Tết Mậu Thân.
Ở phía Tây Nam, Tiểu đoàn 16 tiến về Tân Sơn Nhất.
Không có trận pháo mở màn như kế hoạch.
Chỉ có tiếng súng.
Hàng rào.
Bãi mìn.
Lô cốt.
Và những người lính tiến lên.
Chú thích: Sân bay Tân Sơn Nhất – chiến trường của trận đánh Tiểu đoàn 16 trong đợt đầu Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân và các tư liệu lịch sử về trận đánh.
Nguyễn Văn Sáu dẫn đầu mũi thọc sâu.
Ông vượt qua hàng rào.
Đánh vào lô cốt đầu cầu.
Rồi bị thương.
Nhưng không rời trận địa.
Ông giao tài liệu cho chiến sĩ liên lạc.
Sau đó tiếp tục chiến đấu.
Cho đến khi hy sinh.
Chú thích: Tái hiện cuộc chiến đấu của Tiểu đoàn 16 tại Tân Sơn Nhất; Nguyễn Văn Sáu hy sinh trong trận đánh này.
Nguồn: Dân Trí và Tri ân liệt sĩ.
Sau này, một bài thơ ra đời.
“Dáng đứng Việt Nam.”
Một người lính đứng giữa đường băng.
Một tư thế đã trở thành biểu tượng.
Nhưng phía sau biểu tượng ấy là những con người có thật.
Nguyễn Văn Sáu.
Nguyễn Công Mẹo.
Phan Văn Đồ.
Và hàng trăm người lính Tiểu đoàn 16 đã không trở về.
Chú thích: Tưởng niệm các liệt sĩ Tiểu đoàn 16 – những người đã chiến đấu và hy sinh trong trận Tân Sơn Nhất Tết Mậu Thân 1968.
Nguồn: Báo Cựu chiến binh Việt Nam và Dân Trí.
Nguyễn Văn Sáu không sống đến ngày đất nước thống nhất.
Ông cũng không biết rằng 45 năm sau ngày hy sinh, Nhà nước sẽ truy tặng mình danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhưng có một điều ông đã để lại.
Không phải một ngôi nhà.
Không phải một tài sản.
Mà là một cách làm người lính:
Khi bộ đội tiến lên, người chỉ huy đi cùng.
Khi đồng đội bị thương, người chỉ huy không bỏ lại.
Khi trận đánh chưa kết thúc, người chỉ huy không rời trận địa.
Chú thích: Di ảnh Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Sáu – Chính trị viên Tiểu đoàn 16, Phân khu 2 – Long An.
Nguồn: Tiền Phong và Tri ân liệt sĩ.
Và nếu phải gói câu chuyện về Nguyễn Văn Sáu trong một hình ảnh, có lẽ đó không nên chỉ là hình ảnh một người nằm xuống.
Mà là hình ảnh một người vẫn tiến về phía trước khi biết mình đã bị thương.
Một con người thật.
Một trận đánh thật.
Một sự hy sinh thật.
Còn “dáng đứng” trong thơ đã trở thành biểu tượng của cả một thế hệ.
Nguyễn Văn Sáu – người chính trị viên Tiểu đoàn 16 đã đi vào trận đánh Tân Sơn Nhất từ phía trước, và ở lại nơi ấy mãi mãi.



