Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGUYỄN VĂN TÀU (TƯ CANG) – HUYỀN THOẠI TÌNH BÁO GIỮA LÒNG ĐỊCH

Quảng Ngãi01/10/2026Xây dựng (Đoàn Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
NGUYỄN VĂN TÀU (TƯ CANG) – HUYỀN THOẠI TÌNH BÁO GIỮA LÒNG ĐỊCH

Họ và tên đầy đủ: NGUYỄN VĂN TÀU

Bí danh: Tư Cang. Trong một số giai đoạn hoạt động, ông sử dụng tên Trần Văn Quang.

Ngày, tháng, năm sinh: 30/10/1928.

Phân loại nhân chứng: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Đại tá, cán bộ tình báo quân sự, nguyên Cụm trưởng Cụm tình báo H.63.

Quê quán: Bà Rịa – Vũng Tàu. Một số tư liệu cụ thể ghi ông sinh tại Long Phước, Bà Rịa.

 

Nguyễn Văn Tàu sinh ngày 30 tháng 10 năm 1928 tại Vũng Tàu. Ông tham gia cách mạng từ năm 1945, trong phong trào Thanh niên tiền phong. Khi nhắc đến Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), nhà tình báo chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhiều người không chỉ nhớ đến một “huyền thoại” thầm lặng, mà còn xem ông như một “cuốn lịch sử sống” – nơi lưu giữ ký ức chân thực về những năm tháng chiến tranh gian khổ mà hào hùng của dân tộc.

z7777928439474_dd1291622ee6ce5c67444186f91d3842-135302.webp

Từ người lính tầm vông đến “huyền thoại” tình báo

Ở tuổi gần tròn một thế kỷ, ông vẫn minh mẫn, nhớ rõ từng thời khắc của cuộc kháng chiến trường kỳ, đặc biệt là ngày 30/4/1975 – dấu mốc thiêng liêng của dân tộc. Những ký ức ấy không chỉ là lịch sử, mà còn là minh chứng sống động cho ý chí kiên cường của một thế hệ.

Sinh ra trong bối cảnh đất nước bị xâm lược, từ rất sớm, ông đã mang trong mình lòng yêu nước và ý chí đấu tranh. Năm 1947, tại quê hương Long Phước, người thanh niên Nguyễn Văn Tàu tham gia cách mạng. Nhận thấy phẩm chất kiên trung, mưu trí, tổ chức đã giao cho ông hoạt động tình báo bí mật tại Sài Gòn – một nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm.

Ông nhớ lại: “17 tuổi, tôi cùng nhân dân cầm tầm vông đứng lên giành chính quyền. 19 tuổi, tôi thoát ly gia đình, theo Việt Minh, để lại người vợ trẻ đang mang thai”. Lời kể giản dị nhưng khắc họa rõ hình ảnh một thế hệ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Sau Hiệp định Geneva năm 1954, ông tập kết ra Bắc, rồi được điều vào ngành tình báo. Cuối năm 1961, ông trở lại miền Nam. Tháng 4/1962, tại chiến khu Dương Minh Châu, ông chỉ huy Cụm tình báo H63, trực tiếp phục vụ hoạt động của điệp viên chiến lược Phạm Xuân Ẩn. Trong điều kiện hoạt động bí mật, ông nhiều lần vào nội đô, đối mặt hiểm nguy, luôn sẵn sàng hy sinh.

Sau Tết Mậu Thân 1968, ông đảm nhiệm Phó Chính ủy Phòng Tình báo Miền, rồi Chính ủy Lữ đoàn Biệt động 316, trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Mùa Xuân 1975, đơn vị ông được giao nhiệm vụ tiến công các mục tiêu trọng yếu, giữ các cây cầu chiến lược, mở đường cho lực lượng chủ lực tiến vào Sài Gòn.

Trận giữ cầu Rạch Chiếc là một dấu ấn bi tráng. Dù chịu nhiều tổn thất, 52 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, đơn vị vẫn giữ vững trận địa, bảo đảm cho chiến dịch diễn ra đúng kế hoạch. Đó là ký ức không thể nào quên đối với người chỉ huy.

Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, giữa giờ phút lịch sử, điều ông nghĩ đến đầu tiên là gia đình. Khoảnh khắc ấy khép lại “cuộc đời ẩn” của một chiến sĩ tình báo, đánh dấu sự trở về của người lính sau những năm tháng cống hiến thầm lặng.

Từ chiến trường thầm lặng đến “cuốn lịch sử sống” thời bình

Sau năm 1975, ông tiếp tục chỉ huy Lữ đoàn 316 làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Do thương tích chiến tranh, ông phải rời xa chiến trường với tỷ lệ thương tật 2/4. Dẫu vậy, tinh thần người lính trong ông vẫn vẹn nguyên.

Ở bất cứ cương vị nào, ông cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ trọn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Khi nghỉ hưu, ông tiếp tục đóng góp bằng con đường viết lách. Nhiều tác phẩm như Tình báo kể chuyện, Sài Gòn Mậu Thân 1968, Trái tim người lính, Hoàng hôn trên chiến trường, Bến Dược vùng đất lửa, Nước mắt ngày gặp mặt… đã ra đời, tái hiện chân thực một thời khói lửa.

Ông chia sẻ: “Viết để kể lại không chỉ cuộc đời mình, mà còn là ký ức của đồng đội, của cả dân tộc; để thế hệ trẻ hiểu hơn giá trị của độc lập, hòa bình – những điều được đánh đổi bằng máu xương”.

Không chỉ viết, ông còn thường xuyên gặp gỡ, nói chuyện với học sinh, sinh viên, kể lại những năm tháng chiến đấu, góp phần bồi đắp lòng yêu nước và trách nhiệm công dân. Đồng thời, ông tích cực tham gia các hoạt động nghĩa tình, giúp đỡ đồng chí, đồng đội gặp khó khăn.

Trải qua gần trọn một thế kỷ, với lòng yêu nước và niềm tin son sắt vào Đảng, ông thấu hiểu sâu sắc giá trị của độc lập, hòa bình. Ở tuổi 98, ký ức về những năm tháng chiến tranh vẫn vẹn nguyên. Với thế hệ trẻ, ông thực sự là một “cuốn lịch sử sống”.

Ông nhắn nhủ: “Từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập đến nay, nhiều thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc. Vì vậy, lớp trẻ cần trân trọng, gìn giữ và phát huy thành quả ấy; ra sức học tập, rèn luyện, góp phần xây dựng đất nước”.

Theo ông, lịch sử là nền tảng để mỗi người nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc và vững bước đi tới tương lai. Và hôm nay, hình ảnh người đại tá năm xưa vẫn cần mẫn kể chuyện lịch sử – trong những buổi gặp gỡ, những dịp trọng đại – như một nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại, truyền lửa cho thế hệ mai sau.

Chiến sĩ tình báo Tư Cang “biệt tích”, bất ngờ trở về nhà đúng ngày 30/4/1975

Ngày đó, có thời điểm, ông vào nội đô Sài Gòn, diễn vỏ bọc của gia sư, kế toán. Xong chuyến công tác, ông trở về căn cứ đóng tại Địa đạo Củ Chi, ăn măng tre, uống nước cầm hơi, cùng các chiến sĩ vũ trang, giao thông bảo vệ điện đài vô tuyến, giữ đường dây liên lạc thông suốt cho đến ngày thống nhất đất nước.

Ông đi làm cách mạng năm 1946, lúc vợ đang mang thai đứa con đầu lòng. Cũng từ đó, ông mất liên lạc với gia đình suốt gần 30 năm. Vì yêu cầu của tổ chức, ông đổi tên, sống dưới thân phận mới, hoạt động tình báo ngay trong lòng địch. Bà Ánh, vợ ông không biết ông còn sống hay đã hy sinh, chỉ biết lần cuối ông nói: “Anh đi, rồi anh sẽ về.” Vợ ông vẫn luôn chờ đợi, tin vào lời ông nói: trở về.

Đêm gặp lại: Tối 30/4/1975, khi Sài Gòn vừa giải phóng, ông trở về căn nhà cũ ở Thị Nghè, không quân hàm, không huân chương, chỉ là một người đàn ông bước vào ngõ tối, gọi lớn: “Nhồng ơi! Nhồng!”. Bà Ánh giật mình. Đó là biệt danh của con gái. Bà chạy ra, òa khóc: “Ở đây nè, anh về đó hả?”. Cái ôm đầu tiên sau 29 năm. Ngày ông đi, con gái còn trong bụng mẹ. Ngày ông về, con đã 29 tuổi, có chồng, có con nhỏ. Ông nghẹn ngào không nói được lời nào, chỉ biết ôm chặt cô cháu gái vào lòng. Đêm ấy, đứa cháu nhỏ rụt rè nói: “Con mừng ông ngoại về với bà ngoại”. Cả nhà đều khóc. Dù đóng vai trò quan trọng trong kháng chiến, với ông, được trở về nhà, được ăn bữa cơm với vợ con, bế cháu trong tay là phần thưởng lớn nhất.

Sau ngày đoàn tụ, ông lại tiếp tục công tác cho đến ngày nghỉ hưu. Một người lính từng sống dưới “thân phận giả” gần 30 năm. Một người chồng giữ trọn lời hứa "anh đi, rồi anh sẽ về". Một người cha trở về vào đúng ngày đất nước thống nhất… 

anh-1a-1777092671696562472308.webp

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGUYỄN VĂN TÀU (TƯ CANG) – HUYỀN THOẠI TÌNH BÁO GIỮA LÒNG ĐỊCH | Câu chuyện thời hoa lửa