NGUYỄN VĂN THẠC – NGỌN LỬA THANH XUÂN BẤT TỬ GIỮA THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ
LỜI NÓI ĐẦU
Đến với cuộc thi "Câu chuyện thời hoa lửa", tôi đã lật mở rất nhiều trang sử, đứng kính cẩn trước rất nhiều bức chân dung của những người con ưu tú đã ngã xuống cho dáng hình xứ sở. Mỗi câu chuyện, mỗi cuộc đời đều là một bản hùng ca bất tử. Nhưng có lẽ, điều chạm đến nơi sâu thẳm nhất trong trái tim tôi, thôi thúc tôi phải cầm bút viết nên những dòng này, chính là cuốn nhật ký "Mãi lộ tuổi hai mươi" của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc.
Tôi chọn viết về anh không chỉ bởi anh là một người lính quả cảm nơi chiến trường khốc liệt, mà bởi ở anh, tôi tìm thấy tiếng lòng của một thế hệ trí thức trẻ đầy lãng mạn và kiêu hùng. Câu chuyện của anh không chỉ là một lát cắt lịch sử, mà còn là một tác phẩm văn học, một lời tự sự bằng xương bằng máu của tuổi trẻ Việt Nam trước vận mệnh quốc gia.
Đối với tôi, việc lật mở lại cuộc đời anh chính là hành trình đi tìm lời giải cho câu hỏi lớn của thời đại: Tuổi trẻ cần sống và cống hiến như thế nào để không hoài phí thanh xuân? Viết về anh, tôi mong muốn được thắp lại ngọn lửa thanh xuân rực rỡ ấy, để bản thân và thế hệ hôm nay hiểu được giá trị của một thời đại mà mỗi cuộc đời nằm xuống đều hóa thân thành sông núi.
I. Chàng sinh viên chuyên Văn và trang sách gác lại nơi giảng đường.
Nguyễn Văn Thạc vốn là một chàng trai mang tâm hồn nghệ sĩ giàu suy tư, thông minh và đầy nhạy cảm. Tài năng văn chương của anh đã sớm bộc lộ từ thuở thiếu thời khi anh xuất sắc đoạt giải Nhất cuộc thi học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc năm học 1969 - 1970. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh bước chân vào giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trở thành một sinh viên giỏi của khoa Toán - Cơ.
Tương lai phía trước của anh đáng lẽ sẽ là những công trình khoa học đầy thú vị, là những vần thơ lãng mạn ca ngợi cuộc sống thanh bình bên dòng sông Hồng lộng gió. Giảng đường khi ấy là bầu trời bao la của những ước mơ, hoài bão tuổi trẻ, nơi anh gửi gắm những khát vọng của một người tri thức tương lai.
Thế nhưng, lịch sử đã chọn thế hệ của anh để gánh vác sứ mệnh giang sơn. Khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn cam go nhất, khi dòng sông Thạch Hãn và mảnh đất Thành cổ Quảng Trị đang sục sôi bom đạn, người thanh niên ấy đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Anh đã không ngần ngại viết đơn tình nguyện nhập ngũ vào tháng 9 năm 1971, sẵn sàng gác lại những trang sách còn dang dở.
Ngày rời Thủ đô thân yêu, hành trang trong chiếc ba lô cóc của anh thật giản dị nhưng chứa đựng cả một khoảng trời. Đó không chỉ có bộ quân phục màu xanh áo lính còn thơm mùi vải mới, mà còn gói chặt cả nỗi nhớ da diết một tà áo trắng học trò – người bạn gái Như Anh, cùng một lời hẹn ước sắt son về ngày trở về khi đất nước hoàn toàn sạch bóng quân thù.



