Nguyễn Văn Thủ – người bác sĩ biến bàn đạp xe đạp thành máy chữa răng
Giữa chiến khu thiếu điện và thiết bị, bác sĩ Nguyễn Văn Thủ dùng bộ truyền động của xe đạp chế tạo máy chữa răng vận hành bằng chân. Những chiếc máy đặc biệt ấy theo xuồng đến phục vụ cán bộ và nhân dân khắp vùng kháng chiến Nam Bộ.
Trong một chiếc xuồng đi qua vùng kháng chiến Nam Bộ đầu thập niên 1950 có hai cỗ máy rất đặc biệt. Chúng không chạy bằng điện và cũng không giống những thiết bị nha khoa được nhập từ nước ngoài.
Bộ phận quan trọng nhất của mỗi máy là một bàn đạp xe đạp.
Khi cần chữa răng, người bác sĩ hoặc nha tá dùng chân đạp để làm chuyển động hệ thống truyền lực. Mũi khoan, dụng cụ cắt và mài nhờ đó có thể hoạt động. Một người phụ tá đứng bên cạnh cầm đèn pin rọi vào miệng bệnh nhân. Chữa xong ở một nơi, máy lại được đưa xuống xuồng để tiếp tục đến một vùng khác.
Người nghĩ ra thiết bị ấy là bác sĩ Nguyễn Văn Thủ, một nha sĩ từng được đào tạo bài bản tại Pháp và có phòng khám đông khách ở Sài Gòn.
Nguyễn Văn Thủ sinh ngày 27 tháng 2 năm 1915 tại xã Trung Hậu, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1933, sau khi tốt nghiệp tú tài ở tuổi 18, ông được gia đình cho sang Pháp học ngành nha khoa. Trong thời gian du học, ông tham gia các hoạt động của những người Việt Nam yêu nước tại Paris.
Năm 1940, Nguyễn Văn Thủ tốt nghiệp bác sĩ nha khoa rồi trở về Việt Nam. Với trình độ chuyên môn được đào tạo ở châu Âu, ông có thể xây dựng một cuộc sống sung túc. Phòng nha của ông ở Sài Gòn nhanh chóng thu hút nhiều bệnh nhân.
Nhưng bên ngoài phòng khám, phần lớn đồng bào vẫn sống trong cảnh nghèo khó và hầu như không có điều kiện được chăm sóc răng miệng. Dưới chế độ thuộc địa, mạng lưới y tế hiện đại chủ yếu phục vụ một bộ phận nhỏ cư dân đô thị. Tại nông thôn, việc chữa răng thường chỉ dừng ở những biện pháp thô sơ, trong khi thuốc men và nhân viên y tế đều thiếu.
Tháng 5 năm 1944, Nguyễn Văn Thủ chính thức tham gia hoạt động cách mạng. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông rời phòng khám tiện nghi, cùng những trí thức như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và Hà Huy Giáp đi vào chiến khu.
Ở đó, bằng cấp và kinh nghiệm chuyên môn của người bác sĩ gặp một thực tế hoàn toàn khác. Không có ghế nha khoa chuyên dụng, máy khoan chạy điện hay hệ thống chiếu sáng. Nhiều vùng thậm chí không có điện. Việc đưa một máy chữa răng thông thường qua sông rạch và đường rừng cũng gần như không thể thực hiện.
Nguyễn Văn Thủ không chờ đến khi có đủ thiết bị mới bắt đầu công việc.
Ông cùng các cộng sự làm một chiếc ghế bằng gỗ, gắn vào đó hệ thống truyền động lấy từ xe đạp. Lực đạp của chân thay thế động cơ điện, giúp dụng cụ nha khoa có thể khoan, cắt và mài. Thiết bị đơn giản, có thể tháo lắp và vận chuyển đến nhiều nơi.
Sáng kiến ấy giải quyết cùng lúc hai vấn đề: không cần nguồn điện và không phụ thuộc vào máy móc nhập khẩu. Quan trọng hơn, nó đưa việc chữa răng ra khỏi một phòng khám cố định, đến gần người bệnh trong vùng kháng chiến.
Máy chữa răng bằng bàn đạp còn trở thành phương tiện thực hành cho những lớp nhân viên nha khoa đầu tiên. Năm 1950, bác sĩ Nguyễn Văn Thủ mở một khóa đào tạo kéo dài hai năm với 26 học viên. Sang năm 1951, một lớp nha tá tiếp tục được tổ chức.
Học viên sau khi được đào tạo tham gia các đoàn nha y lưu động, mang theo máy móc và dụng cụ đi bằng xuồng qua nhiều tỉnh. Họ vừa chữa bệnh, vừa phổ biến kiến thức vệ sinh răng miệng cho cán bộ và nhân dân. Trong hoàn cảnh chiến tranh, người làm nha khoa nhiều khi phải đồng thời có sự khéo léo của một người thợ cơ khí: chân giữ nhịp bàn đạp, tay điều khiển dụng cụ, còn ánh sáng chỉ đến từ chiếc đèn pin của người phụ tá.
Những chiếc máy thô sơ ấy góp phần hình thành mạng lưới răng hàm mặt cách mạng tại Nam Bộ.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Nguyễn Văn Thủ tập kết ra miền Bắc và tiếp tục xây dựng ngành răng hàm mặt. Ông tham gia thành lập Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam và giữ cương vị Chủ tịch đầu tiên của Hội.
Năm 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, ông trở lại chiến trường miền Nam. Đầu quý II năm ấy, Ban Dân y Trung ương Cục miền Nam được thành lập và bác sĩ Nguyễn Văn Thủ được giao phụ trách.
Nhiệm vụ của ông lúc này không còn giới hạn trong chuyên ngành răng hàm mặt. Ban Dân y phải tổ chức mạng lưới cứu chữa cho bộ đội, cán bộ và nhân dân ở vùng giải phóng; đào tạo y tá, y sĩ và hộ lý; xây dựng bệnh viện dã chiến; phòng chống dịch bệnh và tìm cách sản xuất thuốc ngay tại chiến trường.
Trong nhiều thời điểm, các cơ sở dân y phải hoạt động dưới những đợt càn quét, pháo kích và ném bom. Bệnh viện được dựng giữa rừng, có lúc phải chuyển địa điểm để tránh sự truy lùng. Theo Báo Nhân Dân, Nguyễn Văn Thủ trực tiếp chỉ huy Ban trong những năm tháng ác liệt nhất và có mặt cứu chữa thương binh tại các trận địa nóng bỏng.
Dưới sự chỉ đạo của Ban Dân y, mạng lưới y tế cách mạng được mở rộng. Các cơ sở trong chiến khu còn sản xuất vaccine phòng đậu mùa, tả và thương hàn bằng những phương tiện tự tạo. Cán bộ y tế trồng cây thuốc, tổ chức xưởng dược và kết hợp dân y với quân y để bảo vệ sức khỏe cho cả lực lượng chiến đấu lẫn người dân.
Căn cứ Ban Dân y Trung ương Cục miền Nam tại Tây Ninh về sau được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia. Tại đây có tượng bác sĩ Nguyễn Văn Thủ cùng những danh y tiêu biểu của nền y tế Việt Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục xây dựng mạng lưới răng hàm mặt ở các tỉnh phía nam. Khi ấy, toàn Nam Bộ chỉ có một đơn vị điều trị chuyên sâu tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Nguyễn Văn Thủ đề xuất thành lập một viện chuyên ngành trực thuộc Bộ Y tế, vừa chữa bệnh vừa đào tạo cán bộ cho các địa phương.
Ngày 17 tháng 5 năm 1984, ông được bổ nhiệm làm Viện trưởng đầu tiên của Viện Răng Hàm Mặt Việt Nam, tiền thân của Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ hơn một tháng sau, ngày 24 tháng 6 năm 1984, ông qua đời.
Từ một phòng nha đông khách ở Sài Gòn đến chiếc máy khoan vận hành bằng bàn đạp trong chiến khu, cuộc đời Nguyễn Văn Thủ cho thấy giá trị của tri thức không nằm ở điều kiện hiện đại mà người thầy thuốc được hưởng. Giá trị ấy nằm ở khả năng tìm ra cách phục vụ người bệnh ngay cả khi gần như không có gì trong tay.
Chiếc máy chữa răng từ bàn đạp xe đạp vì thế không chỉ là một sáng kiến kỹ thuật. Nó là biểu tượng của một nền y tế được xây dựng từ nhu cầu của nhân dân, bằng sự sáng tạo và lựa chọn dấn thân của những người thầy thuốc trong chiến tranh.



