Nguyễn Văn Thuần – người đào hào ngầm siết chặt vòng vây Điện Biên
Không có máy ủi, cưa hay thuốc nổ, Nguyễn Văn Thuần cùng đồng đội dùng dụng cụ thô sơ làm đường, dựng hầm pháo và sáng tạo cách đào hào ngầm vây lấn.
Ở Điện Biên Phủ, chiến thắng không chỉ được quyết định bằng những đợt xung phong. Trước khi bộ đội tiến vào cứ điểm, hàng vạn mét hào phải được đào, đường kéo pháo phải mở và những hầm pháo khổng lồ phải hoàn thành trong bí mật. Giữa công việc nặng nhọc ấy, Nguyễn Văn Thuần đã có một sáng kiến đặc biệt: đào hào ngầm dưới lòng đất rồi đánh sập phần mái, biến nó thành đường hào lộ thiên để bộ đội cơ động vây lấn mà đối phương khó phát hiện trước.
Nguyễn Văn Thuần sinh năm 1916, quê ở xóm Cổng Bắc, làng Quỳnh Lâu, xã Cộng Hòa, huyện Yên Hưng, nay thuộc phường Cộng Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Gia đình nghèo, từ năm 10 tuổi đến 28 tuổi ông phải đi ở cho các gia đình địa chủ trong vùng. Cuộc sống cơ cực tạo nên ở người thanh niên vùng biển ý chí bền bỉ và khả năng chịu đựng gian khó.
Năm 1944, Nguyễn Văn Thuần bị bắt đi lính cho Pháp. Sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945, ông bị quân Nhật bắt làm tù binh, đánh đập và phải đi chữa bệnh. Ông tìm cách trốn về quê, tham gia Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông xung phong vào bộ đội, chiến đấu tại Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312.
Từ một chiến sĩ, Nguyễn Văn Thuần trưởng thành dần qua nhiều trận đánh. Năm 1946, ông cùng sáu đồng đội chặn địch suốt một ngày một đêm, phá sập phần đuôi cầu Lai Vu và làm gián đoạn tuyến tiếp tế từ Hải Phòng lên Hải Dương. Năm 1947, ông bố trí trung liên bắn chặn, tiêu diệt một trung đội địch, hỗ trợ đơn vị phá một trận càn.
Tại Phủ Thông năm 1948, Nguyễn Văn Thuần dẫn đầu tổ xung kích đánh giáp lá cà. Trong trận Phố Ràng năm 1949, dù bị thương, ông vẫn cùng ba chiến sĩ đánh chiếm phần lớn đồn, thu một khẩu trung liên và một khẩu cối 60mm. Qua các chiến dịch Biên giới, Trung du và Hòa Bình, ông tiếp tục nổi bật bởi sự bình tĩnh, mưu trí và luôn có mặt trên hướng khó khăn.
Giữa tháng 12 năm 1953, Trung đoàn 141 nhận lệnh hành quân lên Tây Bắc tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiệm vụ chuẩn bị trận địa vô cùng nặng nề. Bộ đội phải mở đường cho pháo, làm công sự, đào hầm và bảo đảm mọi hoạt động không bị máy bay trinh sát của đối phương phát hiện. Dụng cụ trong tay họ rất ít: chủ yếu là dao rựa và những chiếc xẻng bộ binh đã cũ.
Không có cưa để hạ cây, Nguyễn Văn Thuần hướng dẫn chiến sĩ bới đất quanh gốc, chặt dần từng rễ rồi dùng dao rựa hạ thân cây. Không có choòng và xà beng, ông cho chặt gỗ cứng làm đòn bẩy. Không được sử dụng thuốc nổ vì phải giữ bí mật, ông động viên mọi người kiên nhẫn tìm thớ đá, dùng đục và dụng cụ thô sơ tách từng phần.
Đặc biệt khó khăn là việc làm hầm cho pháo 105mm. Mỗi hầm phải đào sâu vào vách núi, lấy ra khoảng 200 đến 300m³ đất đá. Những cây gỗ chống đỡ phải có đường kính từ 30cm trở lên. Phần nắp hầm dày hơn 3m, gồm nhiều lớp đất xen gỗ và bó trúc, đủ sức chịu được bom lớn. Không có máy móc hiện đại, tất cả khối lượng ấy được hoàn thành bằng sức người.
Nguyễn Văn Thuần tổ chức công việc thành từng phần, tận dụng vật liệu tại chỗ và liên tục kiểm tra độ chắc chắn. Trận địa không chỉ cần bền mà còn phải bảo đảm góc bắn, đường đưa đạn và lối ra vào an toàn. Những căn hầm pháo do đơn vị hoàn thành đã góp phần che giấu, bảo vệ hỏa lực của ta trước pháo binh và máy bay Pháp.
Ngày 13 tháng 3 năm 1954, chiến dịch mở màn bằng trận Him Lam. Trung đoàn 141 cùng Trung đoàn 209 của Đại đoàn 312 tiến công trên hướng chủ yếu. Đến 23 giờ 30 phút, quân ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm. Sau thắng lợi đầu tiên, nhiệm vụ đào hào vây lấn trở nên cấp bách: đường hào phải tiến ngày càng gần hệ thống phòng ngự của đối phương.
Địch có thể quan sát những đoạn hào mới và dùng pháo, súng máy ngăn chặn. Nguyễn Văn Thuần, khi đó là cán bộ tiểu đoàn, đề xuất đào một đoạn ngầm dưới mặt đất. Bộ đội đào trong lòng đất để che khuất hoạt động; khi đoạn ngầm đã tới vị trí cần thiết, họ đánh sập phần mái phía trên, nhanh chóng tạo thành đường hào lộ thiên. Cách làm này giúp giảm thời gian bị lộ và tạo yếu tố bất ngờ.
Những đường hào mới cho phép bộ đội đưa lực lượng, vũ khí và vật chất tiến sát cứ điểm hơn, đồng thời thu hẹp không gian hoạt động của quân Pháp. Từng mét hào nối tiếp nhau như những nhánh cây lan trên cánh đồng Mường Thanh. Đối phương bị siết chặt, sân bay bị uy hiếp, khả năng cơ động và tiếp tế ngày càng giảm.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Nguyễn Văn Thuần là Tiểu đoàn phó phụ trách đại đội chủ công. Ông cùng đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, góp phần tiêu diệt địch và bắt sống một đại đội. Tuy vậy, nét đặc biệt trong câu chuyện của ông vẫn là khả năng biến những thứ rất bình thường – chiếc xẻng cũ, dao rựa, thanh gỗ cứng – thành công cụ giải quyết những bài toán tưởng phải cần máy móc.
Với quá trình chiến đấu, Nguyễn Văn Thuần được tặng Huân chương Quân công hạng Ba, hai Huy chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Ba; 11 lần được tiểu đoàn, trung đoàn và đại đoàn khen thưởng. Ông còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu. Ngày 31 tháng 8 năm 1955, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nguyễn Văn Thuần qua đời năm 1979 tại Hà Nội. Năm 2014, một trường tiểu học tại quê hương Cộng Hòa được mang tên ông. Đó là cách người dân Quảng Yên lưu giữ ký ức về một người con từng trải qua tuổi thơ cơ cực, trưởng thành thành cán bộ chỉ huy và góp sức làm nên Điện Biên Phủ.
Câu chuyện Nguyễn Văn Thuần cho thấy sức mạnh của trí sáng tạo trong chiến tranh nhân dân. Khi không có máy ủi, ông cùng đồng đội dùng cuốc, xẻng và sức người; khi không được nổ mìn, họ lần theo thớ đá; khi đường hào dễ bị phát hiện, họ đi ngầm dưới lòng đất. Từng giải pháp nhỏ hợp lại thành hệ thống trận địa lớn, đưa quân ta từng bước tiến gần và giành chiến thắng.



