NGUYỄN VĂN TRỖI (11)
Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940 tại làng Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; sớm mồ côi mẹ, vào Sài Gòn lập nghiệp làm thợ điện tại Nhà máy điện Chợ Quán. Quan trọng hơn, các tư liệu ghi lại bối cảnh lịch sử năm 1964, khi Mỹ tăng cường can thiệp vào miền Nam Việt Nam, phái đoàn quân sự cấp cao do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu đến Sài Gòn để hoạch định chiến lược chiến tranh. Các tư liệu cũng mô tả chi tiết kế hoạch đặt mìn của lực lượng biệt động, hành động bị bắt của Ngu
NGUYỄN VĂN TRỖI : “LỜI THỀ BẤT KHUẤT GIỮA LÒNG THÙ HẬN”
Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940 tại làng Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; sớm mồ côi mẹ, vào Sài Gòn lập nghiệp làm thợ điện tại Nhà máy điện Chợ Quán. Quan trọng hơn, các tư liệu ghi lại bối cảnh lịch sử năm 1964, khi Mỹ tăng cường can thiệp vào miền Nam Việt Nam, phái đoàn quân sự cấp cao do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu đến Sài Gòn để hoạch định chiến lược chiến tranh. Các tư liệu cũng mô tả chi tiết kế hoạch đặt mìn của lực lượng biệt động, hành động bị bắt của Nguyễn Văn Trỗi vào đêm 9 tháng 5 năm 1964, quá trình bị giam giữ, tra tấn, phiên tòa quân sự kết án tử hình, và giờ phút hy sinh vào 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 1964 tại Khám Chí Hòa, Sài Gòn. Lời nói cuối cùng của ông tại pháp trường, và những ảnh hưởng lan tỏa của hành động và tinh thần bất khuất này cũng là những thông tin cốt lõi.
Giữa lòng đô thị Sài Gòn nhộn nhịp, ẩn mình trong bộn bề cuộc sống, có một thanh niên tên Nguyễn Văn Trỗi, vốn là một người thợ điện hiền lành tại Nhà máy điện Chợ Quán. Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, lòng căm thù giặc Mỹ và bè lũ tay sai luôn nhen nhóm trong trái tim ông. Được giác ngộ lý tưởng cách mạng, ông gia nhập vào tổ chức Biệt động Sài Gòn, trở thành một chiến sĩ dũng cảm, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ hiểm nguy.
Năm 1964, khi đế quốc Mỹ gia tăng sự hiện diện quân sự tại miền Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara cùng một phái đoàn quân sự cấp cao đã đến Sài Gòn để “nghiên cứu tình hình”. Đây là cơ hội quý báu để lực lượng cách mạng giáng một đòn mạnh vào ý chí xâm lược của kẻ thù. Nguyễn Văn Trỗi, với tinh thần xung phong cao độ, đã tình nguyện nhận nhiệm vụ cài mìn tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) - con đường mà phái đoàn Mỹ dự kiến sẽ đi qua. Dù biết rằng nhiệm vụ này vô cùng nguy hiểm, có thể dẫn đến cái chết, nhưng với lý tưởng “Còn giặc Mỹ, không ai có hạnh phúc cả”, anh đã gạt bỏ mọi lo sợ cá nhân.
Đêm ngày 9 tháng 5 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi cùng đồng đội triển khai kế hoạch. Nhưng định mệnh trớ trêu, khi đang chuẩn bị kích hoạt quả mìn nặng 8kg, anh đã không may bị địch phát hiện và bắt giữ. Trong lao tù tàn bạo, kẻ thù đã dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man, từ đòn roi đến những lời dụ dỗ ngon ngọt, nhằm moi thông tin về cơ sở cách mạng và đồng đội. Nhưng Nguyễn Văn Trỗi, bằng ý chí thép của người cộng sản, đã không một lời khai báo. Ông giữ vững khí tiết, bảo vệ tuyệt đối bí mật của Đảng và tổ chức.
Trước sự kiên cường của anh, chính quyền Sài Gòn đã đưa anh ra tòa án quân sự với bản án tử hình. Tại phiên tòa, khi được hỏi có điều gì mong muốn, Nguyễn Văn Trỗi đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi chỉ tiếc rằng chưa giết được McNamara!”. Lời nói đó vang vọng như tiếng sét, thể hiện sự thách thức ngạo nghễ của người Việt Nam trước quân xâm lược hùng mạnh.
Ngày 15 tháng 10 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi bị đưa ra pháp trường Khám Chí Hòa. Trước hàng trăm phóng viên quốc tế, anh vẫn bình thản, hiên ngang. Khi địch bịt mắt anh, ông giật mạnh tấm băng đen và nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi.” Giây phút cuối cùng, ông đã hô vang lời thề bất khuất: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”. Tiếng hô ấy như tiếng kèn xung trận, vang vọng, cổ vũ lòng yêu nước của cả dân tộc.


