Nguyễn Văn Trỗi (2)
Thời gian tựa dòng sông dài vô tận, chảy qua bao lớp bụi trần, nhưng mỗi khi ta khẽ
ngoảnh nhìn về phía sau, vẫn thấy đâu đó ánh lửa của những năm tháng binh đao còn
lập lòe trong dòng sương ký ức. Có khi là tiếng trống trận dội từ xa thẳm, có khi là hơi
gió hun hút từ dải đất miền Trung mang theo mùi thuốc súng và khói lam chiều, khiến
lòng người bâng khuâng như đang bước lạc về một thuở nước nhà nghiêng ngửa.
Giữa màn hoài niệm mờ sương ấy, một bóng người chậm rãi hiện ra, như được khắc
trên nền trời bằng nét bút của chính lịch sử với dáng đứng thẳng ngang tầm phong vân,
ánh mắt sắc lẹm và khí phách rực lên giữa giông bão đời người. Không cần gọi tên,
chúng ta cũng nhận thấy ở bóng hình ấy khí chất của một bậc trượng phu – người đã
đứng dậy khi non sông chao đảo, đã dám cất bước chân khi bao phận người còn chìm
trong tủi cực, và đã chọn con đường hiểm trở nhất để trả nghĩa cho dân, cho nước. Chỉ
đến khi hào khí bốc lên như vầng dương ló đỉnh núi, cái tên thiêng liêng ấy mới nhẹ
vang: Nguyễn Văn Trỗi – người con trai Quảng Nam đã đem tuổi trẻ hai mươi mấy mùa
trăng đặt vào ngút ngàn phong ba của Tổ quốc. Nhưng Nguyễn Văn Trỗi không chỉ là
tiếng sấm của một thời máu lửa. Dẫu năm tháng đã gấp lại bao chương bi tráng, tấm
gương anh vẫn sáng như ngọc quý, soi xuống lòng thế hệ ngày hôm nay. Bởi có những
con người, một khi đã sống vì dân vì nước, thì bước chân họ không thuộc về cát bụi
nữa, mà hóa thành ánh lửa dẫn đường, hóa thành mạch nguồn bất tận chảy qua tâm
khảm của muôn đời. Từ miền đất gió cát Quảng Nam, nơi “mưa nguồn nắng lửa” hun
đúc nên bao bậc hào kiệt. Thuở ấy, quê hương vẫn còn in dấu chân của quân thực dân,
tiếng khóc trẻ thơ hòa tiếng mõ chợ chiều, nỗi cơ cực lẫn vào mùi rơm khói, như muốn
nhắc rằng mỗi mảnh đời nơi đây đều mang lấy một phần vận nước. Nguyễn Văn Trỗi
lớn lên thừa gió trời nuôi chí, nhìn thấy bất công mà hun đúc thành ngọn lửa trong lòng.
Khi mẹ mất sớm, cha lam lũ mưu sinh, Trỗi sớm biết thế nào là nỗi nhọc nhằn của kiếp
dân đen dưới gót giày ngoại xâm. Đến năm đất Quảng bị giày xéo nặng nề, gia đình
anh phải rời quê vào Sài Gòn tìm con đường sống. Nhưng chính nơi đô thành hoa lệ ấy
tâm hồn người con trai trẻ ấy càng thấu nỗi đau mất nước. Anh làm thuê, học nghề
điện, rồi trở thành công nhân Nhà máy điện Chợ Quán. Những sợi dây dẫn, những
mạch nguồn chớp sáng trong lòng máy móc như gieo thêm hạt giống của một khát
vọng: khát vọng tự do cho quê hương. Giữa những ca làm khuya, thành phố sáng rực
bởi những bóng đèn Trỗi góp tay sửa chữa nhưng chính trong bóng tối của áp bức và
bất công, ý thức cách mạng trong anh lại sáng rực hơn bất kỳ dây tóc nào. Những tiếng
nói yêu nước truyền qua từng xưởng máy, từng nhóm công nhân, từng cuộc họp bí
mật… như tiếng trống kêu gọi con người ấy phải đứng lên vì nước nhà. Bởi thế, con
người ấy không phải tự nhiên mà thành; anh được nuôi lớn bởi gian lao của gia đình,
hun đúc bởi tang thương của quê nhà, và dựng nên khí phách từ chính hơi thở ngột
ngạt của thời cuộc. Mỗi nếp nhăn trên mặt đất miền Nam khi ấy đều là vết dao sắt cắt
sâu hoăm hoắm vào lòng người – và Nguyễn Văn Trỗi, tự thẳm sâu đã chọn cách tự
mình đứng dậy. Khi cơn binh lửa phủ bóng xuống miền Nam, Nguyễn Văn Trỗi không
chọn đứng bên ngoài cuộc đời đang rạn vỡ. Từ một người thợ điện sống giữa Sài Gòn
náo nhiệt mà nhọc nhằn, anh âm thầm bước vào lực lượng Biệt động Thành, mang
theo ý chí được hun đúc bởi bao năm phải chứng kiến dân mình chịu áp bức. Rồi
nhiệm vụ lớn được truyền đến : đặt chất nổ trên tuyến đường mà Bộ trưởng Quốc
phòng Mỹ McNamara sẽ đi qua. Đó không chỉ là một phi vụ; ấy là một nỗ lực thay đổi
thế trận, một hành động muốn làm chậm bàn tay kẻ đang gieo thêm bom đạn xuống
quê hương của mình. Buổi sớm hôm ấy, Sài Gòn vẫn ồn ã xe cộ, nhưng trong từng
bước chân của anh vẫn là sự bình thản đến lạ. Nguyễn Văn Trỗi tiếp cận vị trí, đặt từng
khối thuốc nổ bằng bàn tay quen việc, chắc như người thợ điện vẫn âm thầm sửa
đường dây giữa phố phường tấp nập. Nhưng khi chưa kịp rời đi, anh bị địch phát hiện
và liền bị bắt giữ. Từ giây phút ấy, cuộc chiến của anh không còn nằm ở những quả
mìn, mà nằm trong sự kiên định của một trái tim không chịu khuất phục. Trong nhà lao,
bọn chúng dùng mọi cực hình: roi sắt, đèn pha, tra khảo liên miên. Nhưng Nguyễn Văn
Trỗi vẫn như một thanh thép tôi lửa, chịu đòn mà không hé một lời. Anh không xin tha
hay mong cầu nhẹ tội. Tất cả những gì anh muốn giữ chỉ là bí mật của đồng đội, và cái
tư thế của một người hiểu rõ lí do vì sao mình chiến đấu , mình chiến đấu vì điều gì .
Rồi đến buổi sáng 15 tháng 10 năm 1964. Bị điệu ra pháp trường, tay trói, mắt nhìn
thẳng, anh vẫn yêu cầu được để tay trước ngực, bởi “để chào đồng bào lần cuối”.
Những họng súng chĩa vào ngực anh, nhưng không làm nhòe đi ánh nhìn cứng cáp của
người quyết giữ tròn khí tiết. Tiếng anh vang lên giữa pháp trường – vang mạnh, vang
dõng dạc, vang như muốn khắc vào trời xanh: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ!
Đả đảo Nguyễn Khánh! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”. Đó không phải
là lời chống đối phút cuối mà là tuyên ngôn của một con người đang đứng giữa ranh
giới mong manh của sự sống và cái chết. Và chính trong khoảnh khắc viên đạn xé gió,
danh Nguyễn Văn Trỗi đã vượt ra khỏi phận người, trở thành một vệt sáng khắc sâu
vào lịch sử, như ngọn đuốc cháy sáng giữa lòng một đô thành đen tối .Có những con
người sinh ra giữa những buổi chiều gió hun hun thổi qua những mái nhà tranh, sống
cuộc đời tưởng như sẽ mãi trôi êm như một dòng nước nhỏ. Họ đi làm trong lặng lẽ, ăn
bữa cơm đạm bạc, sáng ra đường với đôi dép mòn và tối trở về trong mùi khói bếp
thân thuộc. Một dáng hình bình thường nhưng không hề tầm thường , chỉ đợi một tia
nắng là bật dậy xanh non. Thế rồi đến một ngày, khi đất nước bỗng rung lên bởi những
biến cố dữ dội, những con người tưởng như nhỏ bé ấy lại đứng dậy với dáng vẻ bình
tĩnh đến lạ. Họ không chọn cách lùi vào bóng tối, cũng không chọn chờ đợi bất kì một ai
khác. Họ hành động bằng niềm tin đã được nuôi suốt đời, bằng sự trong sáng của trái
tim được tôi rèn từ những ngày gió, những mùa mưa, trong những gian truân lặng lẽ .
Có người vẫn còn nhớ dáng họ đi trong buổi sớm mù sương, bước chân không nhanh
nhẹn nhưng lại rất mực chắc chắn, dáng đứng không cao lớn mà lại có điều gì đó thật
vững chãi. Ánh mắt hiền lành vốn có của người dân Việt Nam ta , nhưng khi cần, lại
cháy rực ánh lửa . Ở họ, ta thấy sự mạnh mẽ không phải của gươm giáo, mà là của
tấm lòng biết đau nỗi đau của đất, biết thương nỗi thương của người. Dù không ai ghi
tên họ vào trang vàng, dù thời gian có trôi qua bao mùa mưa nắng, câu chuyện về họ
vẫn nằm trong ký ức dân mình như một âm thanh ấm áp . Và chính vì họ không cầu kỳ,
không tô vẽ, không đòi được nhớ đến, nên người đời lại càng nhớ. Không cần đứng
trên đỉnh cao để thấy thế giới, họ chỉ cần là một người bình thường sống trọn vẹn giữa
mảnh đất Việt Nam. Đôi khi, vẻ đẹp của những con người ấy không nằm ở tiếng vang,
mà nằm ở cách họ sống , bình thường, mà không hề tầm thường; nhỏ bé, mà lại gánh
được cả tổ quốc trên vai. Bởi vậy, khi ta nhắc đến họ, không phải để xây tượng đài, mà
để nhắc mình về một điều giản dị: đất nước này lớn lên từ những bước chân rất nhỏ.
Tổ quốc này được gìn giữ không chỉ bởi những người mang trọng trách lớn lao, mà còn
bởi những trái tim thầm lặng chọn đứng thẳng trong những giờ phút mà ai ai cũng có
quyền được sợ hãi. Và chính những con người bình dị ấy đã làm nên vẻ đẹp lâu dài
nhất của mảnh đất nghĩa tình . Thời gian rồi sẽ kéo bóng chiều phủ xuống bao trọn lấy
tên họ nhưng họ vẫn luôn không cần đến bất cứ một lời tán tụng nào, nhưng mỗi khi
nghĩ đến, ta như thấy trong ngực mình sáng lên một ngọn đèn dầu nhỏ, thứ ánh sáng
chậm rãi mà bền, đủ để giữ con người ta khỏi lạc giữa những ngày xao động. Và chính
từ họ, ta học được cách đứng vững , cách thương lấy cuộc đời mà không cần điều phải
phô bày, cách để lại hương trầm mà không cần chạm vào đá. Dạy chúng ta biết sống
hiền lành nhưng không mềm yếu, biết bước chậm mà không lùi lại. Nhờ vậy, mai này
dù đi xa đến đâu, ta vẫn mang theo một thứ khí phách của con cháu rồng tiên và sự
cao cả chỉ đến từ những con người bình thường!


