NGUYỄN VĂN TRỖI – KHÚC TRÁNG CA BẤT TỬ CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ THÀNH ĐỒNG
|
Trong dòng chảy lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mỗi tấc đất ta đang đi hôm nay đều thấm đượm máu và nước mắt của những người đi trước. Có những con người đã đi vào lịch sử như những huyền thoại, mà tên tuổi của họ gắn liền với những khoảnh khắc làm thay đổi cả một cục diện chính trị hay đánh thức lương tri của nhân loại toàn cầu.Nếu như ở vùng đất Tây Ninh trung dũng, chúng ta bồi hồi xu động trước hình ảnh 27 chiến sĩ của “Hội thề Rừng Rong” – những người đã cắt máu ăn thề, thề độc lập hay là chết dưới gốc cây cổ thụ âm u để bảo vệ quê hương Trảng Bàng; thì giữa lòng Sài Gòn rực lửa, ta lại bắt gặp một biểu tượng kiên cường khác mang tên Nguyễn Văn Trỗi.
Nguyễn Văn Trỗi không chỉ là một người thợ điện bình thường, không chỉ là một người chiến sĩ biệt động dũng cảm, mà anh chính là hiện thân cho ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của thanh niên Việt Nam thế kỷ XX. Cuộc đời anh tuy ngắn ngủi, chỉ vỏn vẹn 24 mùa xuân, nhưng cái cách anh hiên ngang bước tới pháp trường và những lời hô vang cuối cùng đã trở thành một biểu tượng bất tử, một “Hội thề” bằng hành động thực tiễn ngay trước họng súng quân thù. Bài viết này xin được tái hiện lại cuộc đời, lý tưởng và khí phách của người anh hùng đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi .Quê hương và dòng máu anh hùng Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1/2/1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi đã sản sinh ra biết bao anh hùng, liệt sĩ cho dân tộc. Quảng Nam vốn nổi tiếng với tinh thần “Quảng Nam trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”. Ngay từ khi còn là một đứa trẻ, Nguyễn Văn Trỗi đã lớn lên trong không khí sục sôi của những ngày kháng chiến chống Pháp, chứng kiến cảnh quê hương bị tàn phá, người thân bị tù đày. Những hình ảnh đó đã sớm gieo vào lòng anh hạt giống của lòng căm thù giặc và khát vọng tự do.Hành trình vào Nam và ngọn lửa yêu nước âm ỉ .Năm 1954, sau hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước bị chia cắt làm hai miền. Nguyễn Văn Trỗi rời quê hương vào Sài Gòn để mưu sinh và tìm kiếm con đường hoạt động. Tại đây, anh làm đủ mọi nghề để sống qua ngày, từ bốc vác đến làm thuê, trước khi trở thành một người thợ điện tại nhà máy điện Chợ Quán. Cuộc sống lao động vất vả giữa lòng đô thị sầm uất nhưng đầy rẫy sự bất công dưới chế độ Mỹ - Diệm đã làm cho nhận thức chính trị của anh ngày càng sâu sắc. Anh nhận ra rằng, dù ở quê hay ở phố, người dân lao động vẫn là những người khổ cực nhất dưới gót giày của đế quốc xâm lược. Từ một người thợ điện lành nghề, anh đã bí mật tham gia vào tổ chức biệt động thành, bắt đầu những bước chân đầu tiên trên con đường cách mạng đầy chông gai nhưng vinh quang.
Năm 1964, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt. Nhận được tin Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Robert McNamara sẽ sang Sài Gòn để thị sát và tăng cường viện trợ quân sự cho chính quyền bù nhìn, tổ chức Biệt động Sài Gòn đã quyết định thực hiện một trận đánh vang dội để cảnh cáo quân xâm lược.
Nguyễn Văn Trỗi chính là người chủ động xin nhận nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý – cây cầu huyết mạch mà đoàn xe của McNamara bắt buộc phải đi qua để vào nội đô Sài Gòn. Đây là một nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm, cơ hội sống sót là rất thấp, nhưng với tinh thần của một chiến sĩ cách mạng, anh không hề do dự. Anh coi đây là cơ hội để trả nợ nước, thù nhà, và chứng minh cho thế giới thấy sức mạnh của ý chí người Việt Nam.
Đêm ngày 9/5/1964, khi đang chuẩn bị cài mìn tại cầu Công Lý, do bị phản bội, Nguyễn Văn Trỗi đã bị giặc bắt. Kẻ thù biết rằng chúng đã tóm được một nhân vật quan trọng trong hệ thống biệt động thành. Chúng đưa anh về các trung tâm tra tấn dã man nhất của Sài Gòn bấy giờ.
Hàng loạt các cực hình kinh tởm nhất đã được áp dụng: từ điện giật, dùi cui, đến việc dùng đinh đóng vào móng tay... nhưng tất cả đều thất bại trước ý chí sắt đá của người thợ điện. Anh không khai một lời, không phản bội tổ chức. Trong những giờ phút đau đớn nhất về thể xác, anh vẫn giữ vững niềm tin vào Đảng, vào Bác Hồ. Khí tiết của anh lúc bấy giờ cũng giống như lời thề của những chiến sĩ Rừng Rong: “Dù đầu râu tóc bạc vẫn còn chiến đấu! Dù phải hy sinh đời cha thì con cháu tiếp tục chiến đấu!”. Với anh, cái chết không đáng sợ bằng việc sống cuộc đời của một kẻ nô lệ phản bội lại lý tưởng.
Ngày 15/10/1964 đã trở thành một ngày không bao giờ quên trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Kẻ thù quyết định đưa anh ra xử bắn công khai tại vườn hoa pháp trường khám Chí Hòa nhằm mục đích răn đe phong trào đấu tranh của nhân dân và sinh viên Sài Gòn.
Bước ra pháp trường, Nguyễn Văn Trỗi không hề run sợ. Anh bước đi với tư thế của một người chiến thắng, người chủ của mảnh đất này chứ không phải một tử tù. Anh từ chối sự rửa tội của linh mục, khẳng định mình không có tội mà chính những kẻ xâm lược mới là kẻ có tội.
Anh dõng dạc nói: “Tôi không có tội. Kẻ có tội là bọn đế quốc Mỹ và bọn bù nhìn tay sai của chúng”. Khi bọn giặc muốn bịt mắt anh bằng chiếc băng đen, anh đã giật phắt nó ra và nói: “Không! Phải để tôi nhìn thấy mảnh đất này, vì mảnh đất này là của tôi, do cha ông tôi để lại”.
Trước khi loạt đạn tội ác vang lên, Nguyễn Văn Trỗi đã dồn hết sức lực và tâm huyết của mình để hô vang những khẩu hiệu mà sau này đã trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến:
“Hãy nhớ lấy lời tôi!”
“Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh!”
“Việt Nam muôn năm!”
“Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”
Chín phút cuối cùng của anh tại pháp trường là chín phút của một bục giảng về lòng yêu nước. Tiếng hô “Hồ Chí Minh muôn năm” vang lên ba lần như một sự khẳng định đanh thép về niềm tin tuyệt đối vào vị lãnh tụ kính yêu và thắng lợi của dân tộc. Anh ngã xuống, nhưng tinh thần anh đã bùng cháy lên thành một ngọn lửa khổng lồ, thiêu rụi sự sợ hãi của nhân dân và hun đúc thêm ý chí chiến đấu cho thế hệ thanh niên
Cái chết của Nguyễn Văn Trỗi không chỉ là nỗi đau của dân tộc Việt Nam mà còn làm chấn động cả thế giới. Một sự kiện hy hữu đã xảy ra: Đội du kích Falcon của Venezuela đã bắt cóc một sĩ quan Mỹ là Trung tá Michael Smolen để đổi lấy tự do cho Nguyễn Văn Trỗi. Mặc dù thỏa thuận không được thực hiện do sự lật lọng của chính quyền Sài Gòn và Mỹ, nhưng hành động đó đã chứng minh rằng: Tinh thần của Nguyễn Văn Trỗi đã vượt ra ngoài biên giới Việt Nam, trở thành biểu tượng chung cho các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các nghệ sĩ. Nhà thơ Tố Hữu với bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” đã khắc họa chân thực và xúc động giây phút cuối cùng của anh:
“Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lý sinh ra...”
Cuốn sách “Sống như Anh” của tác giả Trần Đình Vân – ghi lại lời kể của chị Phan Thị Quyên (vợ anh) – đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của bao thế hệ thanh niên Việt Nam trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước.
Cuộc đời của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi là một tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Anh ngã xuống khi tuổi đời còn quá trẻ, khi hạnh phúc riêng tư vừa mới chớm nở, nhưng sự hy sinh đó đã đem lại mùa xuân độc lập cho cả dân tộc.
Cũng giống như các chiến sĩ trong “Hội thề Rừng Rong” năm xưa, Nguyễn Văn Trỗi đã dùng chính cuộc đời mình để viết nên lời thề: “Độc lập hay là chết!”. Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, cây cầu Công Lý đã mang tên anh, nhiều ngôi trường và con đường trên khắp dải đất hình chữ S cũng mang tên anh. Nhưng giá trị lớn nhất mà anh để lại không phải là những danh hiệu, mà chính là ngọn lửa lý tưởng.




