NGUYỄN VĂN TRỖI – NGỌN ĐUỐC BẤT DIỆT TRONG THỜI HOA LỬA
Có những con người, dù cuộc đời của họ ngắn ngủi như ánh chớp, nhưng ánh sáng từ sự hy sinh lại đủ để soi rọi cả một chặng đường lịch sử dài của dân tộc. Nguyễn Văn Trỗi – người chiến sĩ trẻ tuổi bình dị của Sài Gòn năm nào – chính là một trong những ánh chớp rực rỡ ấy. Thế hệ chúng tôi, sinh ra sau chiến tranh, đã không còn nghe tiếng bom rơi đạn nổ, không phải chứng kiến những cuộc chia ly không lời từ biệt. Thế nhưng, mỗi lần nhắc tới anh Trỗi, lòng tôi lại trào dâng một cảm xúc thiêng liêng, vừa tự hào vừa nghẹn ngào, như thể chính mình được chứng kiến thời khắc anh đứng trước họng súng quân thù mà dõng dạc cất lên lời thề sống – chết vì Tổ quốc.
1. Từ người thợ điện bình dị đến người chiến sĩ quả cảm
Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940 tại làng Thanh Quýt (nay là thôn Thanh Quýt 4, phường An Thắng, Thành phố Đà Nẵng) trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Là con thứ ba nên còn có tên khác là Tư Trỗi. Cha ông Nguyễn Văn Hóa (tự Thoàn), từng tham gia cách mạng thời Kháng chiến chống Pháp; mẹ là Nguyễn Thị Tuất; anh ruột là Nguyễn Văn Toàn, cũng là một chiến sĩ cách mạng, hoạt động tại vùng Điện Bàn, Quảng Nam. Lúc nhỏ, Nguyễn Văn Trỗi học tiểu học ở trường Miếu Xóm. Cha của ông vào Sài Gòn làm ăn, mẹ của ông phải nuôi 4 chị em. Khi ông chưa tròn 10 tuổi thì mẹ qua đời, để lại 4 chị em ở cùng người bác ruột, vừa phụ giúp đồng áng và vừa đi học.
Năm 13 tuổi, Nguyễn Văn Trỗi theo người anh thứ hai Nguyễn Văn Toàn, lúc đó đang làm công cho một hãng bánh kẹo ra Đà Nẵng để học nghề may. Ông đã làm nhiều nghề từ công nhân hãng kẹo đến học may. Đến năm 1956, bến sông Hàn có tàu Nam Việt đang chuẩn bị khởi hành, Nguyễn Văn Trỗi (lúc này 16 tuổi) đã lén lấy tiền anh trai mua vé tàu vào Sài Gòn. Vào Sài Gòn, ông ở trọ cùng một người bác cùng quê, ban đầu đi đạp xích lô để kiếm sống. Về sau, ông học thêm nghề thợ điện, ban ngày làm thuê, ban đêm học lý thuyết ở trường Bá Nghệ. Sau đó làm công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán. Nguyễn Văn Trỗi nhập ngũ vào ngày 17 tháng 2 năm 1964, cũng từ đây, ông hoạt động xuyên suốt trên địa bàn thành phố Sài Gòn cho đến khi hy sinh vì bị xử bắn vào ngày 15 tháng 10 cùng năm.
Nhưng Sài Gòn những năm 60 không phải là nơi để tuổi trẻ chỉ nghĩ đến chuyện mưu sinh. Bom đạn của Mỹ – ngụy, sự kiểm soát và đàn áp khốc liệt, những tiếng kêu cứu của đồng bào đã khiến anh – người thợ điện hiền lành – trở thành một chiến sĩ cách mạng. Anh gia nhập lực lượng Biệt động Sài Gòn, rồi được giao nhiệm vụ đánh bom ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ McNamara trong một chuyến thị sát ở miền Nam.
Đó không chỉ là một nhiệm vụ táo bạo mà còn là một lựa chọn sinh tử. Nhưng người thanh niên 23 tuổi ấy không hề run sợ. Anh bước vào trận chiến như bước vào định mệnh của chính mình – nhẹ nhàng mà kiên cường.
2. Giây phút bị bắt và nghị lực phi thường trong nhà giam
Từ năm 1960, quân Giải phóng ở chiến trường miền Nam liên tiếp mở các đợt tiến công với quy mô lớn, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, làm nên phong trào Đồng Khởi, kiểm soát một phần đáng kể ở nông thôn miền Nam. Tiếp đó, họ thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, dưới sự chỉ huy của Dương Văn Minh, đã diễn ra cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và còn xử bắn Ngô Đình Cẩn. Biết tin này, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy và người kế nhiệm là Lyndon B. Johnson hết sức bất ngờ. Thất bại liên tiếp trên chiến trường và tình hình chính trị rối loạn của Việt Nam Cộng hòa, làm cho Hoa Kỳ phải hủy bỏ kế hoạch Staley–Taylor, rồi đưa quân đội sang trực tiếp tham chiến đấu ở miền Nam, thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ. Trong bối cảnh đó, để có cách đối phó kịp thời, phía Mỹ đã phải cử các phái đoàn sang thị sát tình hình thực tế ở chiến trường miền Nam. Phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu sẽ đến Sài Gòn thị sát chiến trường vào tháng 5 năm 1964. Lực lượng biệt động Sài Gòn sau khi nhận được tin liền vạch kế hoạch tiêu diệt. Ba phương án tác chiến được Ban chỉ huy cấp trên nhanh chóng thông qua: Thuê một căn nhà cạnh đường Công Lý, mìn định hướng đặt trong nhà, việc câu dây, bảo vệ trái mìn dễ dàng, thuận tiện hơn, không lo bị phát hiện. Phương án hai là chôn hai trái mìn gần đầu cầu Công Lý đón xe của McNamara qua cầu, vừa xuống dốc thoai thoải thì mìn nổ. Phương án ba, nếu McNamara không vào thành phố theo đường Công Lý thì tiếp tục theo dõi, đón đánh khi McNamara rời Sài Gòn. Công việc đang được chuẩn bị thì Tổ biệt động của ông nhận thông báo: "Phái đoàn của McNamara sẽ tới Sài Gòn vào Thứ Hai, ngày 11 tháng 5 năm 1964, tức là sớm hơn dự kiến hai tuần".
Vì Nguyễn Văn Trỗi mới lập gia đình nên không được tham gia trong đội ám sát McNamara. Bộ chỉ huy Sài Gòn – Gia Định chỉ cử 3 người là Lê Đức Hiền, Nguyễn Hoàng Sơn (Ba Sơn) làm nghề lái xe ôm; Nguyễn Hữu Lời làm nghề thợ cắt tóc. Họ chỉ giao cho ông nhiệm vụ xem lại dây điện, nhưng ông lại yêu cầu được tham gia chiến đấu. Thời gian quá gấp, đội không kịp về báo cáo. Theo quy định, Nguyễn Văn Trỗi phải ký vào sổ quyết tử trước khi tham gia chiến đấu. Nguyễn Hữu Lời đã thay ông cầm bút ký vào sổ. Lê Đức Hiền phải chấp nhận mặc dù sai nguyên tắc. Không kịp thuê nhà đặt mìn, họ đành thực hiện phương án hai. Công việc tiếp theo là nhận vũ khí từ căn cứ đưa vào. Vũ khí gồm hai quả mìn DH10 loại 8 kg được đưa an toàn về nhà Ba Sơn. Ba Sơn có nhiệm vụ đưa trái mìn từ nhà ra chùa Vĩnh Nghiêm. Quả mìn được cho vào một thùng sắt dùng để chứa dầu hôi. Phía trên quả mìn là lớp xi măng chết gắn chặt vào thùng. Tư Kiếm họp anh em trong tổ bàn lại kế hoạch đưa mìn tới bãi rác gần cầu Công Lý. Ba Sơn kéo xe ba gác chất gạch, cát, xi măng chết che đi quả mìn 8 kg giấu trong thùng. Nguyễn Hữu Lời cầm tập sách đóng vai một học sinh lảng vảng ở cầu để báo hiệu cho Ba Sơn vào cầu lúc địch bớt chú ý tới người qua lại. Tư Kiếm thủ trong người một quả lựu đạn đi theo để bảo vệ Ba Sơn. Còn Nguyễn Văn Trỗi chờ ở ngã tư Yên Đỗ – Trương Minh Giảng, sẵn sàng đón Ba Sơn hoặc Tư Kiếm nếu việc bại lộ.
Sáng ngày 9 tháng 5 năm 1964, Ba Sơn chở thùng xi măng chết cùng đồ nghề thợ hồ trên chiếc xe ba gác và đi lên cầu Trương Minh Giảng cùng với Tư Kiếm. Để bảo vệ cho chuyến đi của McNamara, quân đội, quân cảnh, cảnh sát được huy động rất đông. Chiếc xe thành công đi qua 4 viên cảnh sát bảo vệ trên cầu. Trái mìn được chôn kín trong bãi rác cạnh đường, cách đầu cầu phía vào thành phố 50m, ngay gần cồng chùa Vĩnh Nghiêm ngày nay. Tối ngày 10 tháng 5, tổ của Tư Kiếm xuất phát, hoàn tất phần chuẩn bị sau cùng, bảo vệ Lời làm nhiệm vụ rải dây điện nối vào quả mìn.
Nhiệm vụ của Nguyễn Văn Trỗi là chuẩn bị chu đáo dây điện, ghép pin vào quả mìn. Còn nhiệm vụ đi phục kích tiêu diệt kẻ thù được giao cho Ba Sơn và Nguyễn Hữu Lời. Tuy nhiên, đến giờ xuất kích, Ba Sơn lại bị kẹt xe, đến chậm; hơn nữa, Nguyễn Văn Trỗi lại xin được giao nhiệm vụ. Nguyễn Hữu Lời đến dãy cầu tiêu công cộng đã gặp ông chờ sẵn cùng chiếc xe máy Sharp mới mua ở đầu đường vào dãy cầu tiêu, chuẩn bị chở Lời khi công việc hoàn thành. Tới nơi, Lời cởi quần áo ngoài đưa cho Nguyễn Văn Trỗi, mặc quần đùi lội xuống Rạch Thị Nghè. Ven bờ rạch, nước cạn chỉ còn bùn và rau muống. Không thể dầm mình xuống nước, Nguyễn Hữu Lời đành lấy rau muống quấn vào người và đầu để ngụy trang, nằm ngửa trườn trên bùn, kéo dây theo. Chính vì nước quá cạn, nên mỗi bước trườn của Lời đều gây ra tiếng động nhẹ, địch phát hiện và kéo đến bao vây. Lúc đó, Nguyễn Hữu Lời đã nối xong dây, bò quay trở lại dãy nhà tiêu. Tới gần bờ thì phát hiện ra Nguyễn Văn Trỗi đã bị bắt. Nguyễn Hữu Lời quay trở lại nhưng không kịp vì dòng kênh rộng nhưng lại quá ít nước, không còn chỗ trốn nên cũng bị bắt. Tư Kiếm và Ba Sơn định đến giải cứu cho Nguyễn Văn Trỗi và Nguyễn Hữu Lời, nhưng do người dân đổ ra quá đông nên không hành động được. Sự việc bại lộ, Nguyễn Văn Trỗi bị bắt bởi hai sĩ quan Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng hòa vào đêm ngày 9 tháng 5.
Lúc đầu, Nguyễn Văn Trỗi bị đưa về Nha cảnh sát. Vài ngày sau, ông nhảy lầu để trốn thoát và đã bị thương ở chân, rồi lại bị bắt lại và đưa về giam ở Khám Chí Hòa cùng với nhiều đồng đội khác như Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Châu. Mặc dụ bị tra tấn với mục đích tra hỏi nhưng ông không khai gì. Để bảo đảm an toàn cho tổ chức và đồng đội, Nguyễn Văn Trỗi đã nhận tất cả trách nhiệm về mình.
Ngày 9/5/1964, Nguyễn Văn Trỗi bị lính ngụy phát hiện và bắt khi anh chuẩn bị đặt mìn trên cầu Công Lý. Anh bị tra tấn dã man suốt nhiều ngày liền, nhưng vẫn kiên quyết không khai nửa lời. Những hình ảnh anh bị cùm trong nhà giam Chí Hòa, thân thể gầy gò nhưng ánh mắt cháy rực, luôn khiến những người thế hệ trẻ như tôi thấy lòng mình thắt lại. Làm sao một người trẻ tuổi, chưa đầy hai mươi ba, chịu bao cực hình vẫn có thể kiên định đến thế? Có lẽ bởi trong trái tim anh, Tổ quốc đã trở thành điều thiêng liêng hơn cả sự sống.
Khi nghe tòa án ngụy tuyên án tử hình, anh chỉ bình thản mỉm cười. Anh biết trước điều đó sẽ đến và đã chuẩn bị tinh thần từ trước. Điều duy nhất khiến anh bận lòng là lời hứa với người vợ trẻ – chị Tuyết – mà anh chưa kịp thực hiện trọn vẹn.
“Anh còn nợ em một lời hứa, nhưng anh phải đi đây. Tổ quốc quan trọng hơn tất cả… Em đừng buồn.”
Những dòng thư của anh gửi cho vợ, gửi cho đồng chí, gửi cho nhân dân, cho đến nay vẫn khiến người đọc rơi nước mắt. Nhưng trong những giọt nước mắt ấy luôn có cả ngọn lửa tự hào, bởi khí phách của anh quá lớn lao, vượt xa tuổi trẻ của một đời người.
3. Buổi xử bắn – khoảnh khắc làm nên bất tử
Sáng ngày 15/10/1964, quân ngụy đưa Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trường. Hình ảnh anh – gầy nhưng hiên ngang, bị trói nhưng vẫn ngẩng cao đầu – đã trở thành biểu tượng bất tử trong lòng nhiều thế hệ.
Khi áo bị che mắt, anh hất mạnh:
“Để tôi nhìn rõ mặt quân thù!”
Khi lính ngụy định buộc tay anh vào cột, anh giật lại:
“Tay tôi không thể trói, vì tôi còn chiến đấu!”
Và rồi, trước bao họng súng, anh hô vang:
“Hãy nhớ lấy lời tôi: Đả đảo đế quốc Mỹ! Việt Nam muôn năm!”
Những tiếng hô cuối cùng của anh, giữa buổi bình minh Sài Gòn, đã trở thành tiếng sét đánh vào trái tim người dân cả nước, lan ra thế giới, làm rúng động lương tri của những người yêu chuộng hòa bình.
Khoảnh khắc anh ngã xuống, dân tộc Việt Nam mất đi một người con ưu tú. Nhưng cũng chính từ khoảnh khắc ấy, anh bước vào vĩnh cửu – một biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên trung và hy sinh bất khuất.
Sau khi bị xử bắn, thi hài Nguyễn Văn Trỗi được chôn cất tại nghĩa trang Văn Giáp tại Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 15 tháng 4 năm 2018, phần mộ Nguyễn Văn Trỗi được chuyển từ nghĩa trang Văn Giáp về Nghĩa trang liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh theo nguyện vọng của gia đình ông.
Sau khi hi sinh, 2 ngày sau, Nguyễn Văn Trỗi được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 17 tháng 10 năm 1964. Ngoài ra còn có các danh hiệu Đảng viên Nhân dân Cách mạng miền Nam và Huân chương Thành đồng hạng Nhất của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh sau đó đã ghi trong bức ảnh chụp Nguyễn Văn Trỗi trước pháp trường: "Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của Anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước - nhất là cho các cháu thanh niên học tập!".



