NGUYỄN VĂN TRỖI – NGỌN LỬA BẤT DIỆT GIỮA THỜI HOA LỬA
Nguyễn Văn Trỗi (1 tháng 2 năm 1940 – 15 tháng 10 năm 1964) là chiến sĩ biệt động thành phố Sài Gòn, Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đã thực hiện vụ ám sát nhằm vào phái đoàn quân sự cao cấp do Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara và đại sứ Henry Cabot Lodge, Jr. đến thăm Việt Nam Cộng hòa vào tháng 5 năm 1964 để hoạch định sách lược chiến tranh ở Việt Nam

Trong những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giữa lòng đô thị Sài Gòn đầy rẫy hiểm nguy, cái tên Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, của ý chí sắt đá và tinh thần bất khuất của người thanh niên Việt Nam. Sinh ra trong một gia đình nghèo ở miền Trung nắng gió, tuổi thơ của anh sớm chịu nhiều mất mát khi mẹ qua đời từ nhỏ. Lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, chứng kiến bao cảnh áp bức, bất công, trong lòng chàng trai trẻ Nguyễn Văn Trỗi đã sớm nhen lên ngọn lửa căm thù giặc và khát vọng đứng lên vì độc lập dân tộc. Năm 1956, theo dòng người ly hương, gia đình anh vào Sài Gòn sinh sống. Giữa chốn đô thành phồn hoa nhưng đầy rẫy bất công, anh vừa làm thuê kiếm sống, vừa học nghề điện. Chính tại nơi đây, trong những ngày lao động vất vả, anh đã được giác ngộ cách mạng, trở thành một chiến sĩ biệt động nội thành gan dạ, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ hiểm nguy nhất. Năm 1963, anh chính thức gia nhập lực lượng biệt động Sài Gòn. Từ đó, cuộc đời anh gắn liền với những trận đánh thầm lặng nhưng quyết liệt giữa lòng địch. Anh luôn là người xung phong đi đầu, không ngại gian khổ, không sợ hy sinh. Với anh, mỗi nhiệm vụ là một lần góp sức cho ngày đất nước thống nhất. Tháng 5 năm 1964, khi nhận được tin Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara sẽ đến Sài Gòn, tổ chức cách mạng đã lên kế hoạch táo bạo nhằm tiêu diệt tên đầu sỏ chiến tranh. Và một lần nữa, Nguyễn Văn Trỗi tình nguyện nhận nhiệm vụ nguy hiểm: đặt mìn tại cầu Công Lý – nơi đoàn xe địch sẽ đi qua. Dù mới cưới vợ chưa đầy nửa tháng, anh vẫn không một chút do dự. Với anh, tình riêng hòa vào nghĩa lớn, hạnh phúc cá nhân nhường chỗ cho Tổ quốc. Ngày 9/5/1964, trong lúc chuẩn bị kích nổ mìn, kế hoạch không may bị lộ. Nguyễn Văn Trỗi bị bắt. Những ngày sau đó là chuỗi tháng ngày tra tấn dã man, dụ dỗ, mua chuộc… nhưng không một lời khai nào được thốt ra. Trước mọi thủ đoạn của kẻ thù, anh vẫn hiên ngang, giữ trọn khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Tại phiên tòa quân sự, khi bị kết án tử hình, anh vẫn bình thản, dõng dạc:
“Tôi chỉ tiếc rằng chưa giết được McNamara.” Câu nói ấy như một nhát dao xoáy vào lòng kẻ thù, đồng thời trở thành tiếng sét đánh thức hàng triệu trái tim yêu nước. Những ngày cuối cùng trong xà lim lạnh lẽo, Nguyễn Văn Trỗi vẫn giữ trọn niềm tin. Anh từng nói:
“Còn giặc Mỹ, không ai có hạnh phúc cả.” Đó không chỉ là lời nói, mà là chân lý được đánh đổi bằng cả cuộc đời và lý tưởng của anh. Sáng ngày 15/10/1964, tại pháp trường Khám Chí Hòa, trước họng súng của kẻ thù, Nguyễn Văn Trỗi vẫn hiên ngang. Khi chúng định bịt mắt, anh giật phăng tấm vải:
“Không! Phải để tôi nhìn mảnh đất này!” Giây phút cuối cùng, giữa làn đạn chuẩn bị khai hỏa, tiếng hô của anh vang lên như tiếng kèn xung trận:
“Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!” Loạt đạn vang lên…
Người chiến sĩ ngã xuống…
Nhưng ngọn lửa mà anh thắp lên thì không bao giờ tắt. Sự hy sinh của Nguyễn Văn Trỗi đã vượt qua ranh giới một con người. Từ Sài Gòn đến khắp mọi miền đất nước, từ Việt Nam lan ra thế giới, tinh thần của anh trở thành biểu tượng của tuổi trẻ yêu nước, của lòng quả cảm và niềm tin tất thắng. Một Nguyễn Văn Trỗi ngã xuống, nhưng hàng vạn Nguyễn Văn Trỗi đã đứng lên. Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, tên anh mãi được nhắc đến như một khúc tráng ca bất tử của thời hoa lửa – nơi những con người bình dị đã hóa thành anh hùng, viết nên những trang sử vàng bằng chính máu và lý tưởng của mình.



