NGUYỄN VIẾT XUÂN: CUỐN NHẬT KÝ TRỞ VỀ VÀ TRẬN ĐỊA CHA LO
Một cuốn nhật ký chiến sĩ được phát hiện trong lần chuyển nhà năm 1982, rồi nhiều năm sau mới được trao cho bảo tàng. Trong những trang giấy cũ có ghi chép về đại đội phòng không của Nguyễn Viết Xuân và ngày 18 tháng 11 năm 1964. Tại trận địa Cha Lo, người chính trị viên bị thương nặng vẫn động viên pháo thủ chiến đấu. Câu chuyện theo dấu những dòng nhật ký để thấy một khẩu hiệu lịch sử xuất phát từ trách nhiệm của người chỉ huy giữa hỏa lực khốc liệt.


Khi dọn đồ để chuyển nhà năm 1982, một người thân của cựu chiến sĩ Trần Đình Khang tìm thấy cuốn nhật ký cũ. Những trang giấy bị nhòe, có góc mục nát nhưng vẫn còn đọc được. Mãi đến cuối năm 2008, kỷ vật mới được mang từ miền Trung ra Hà Nội trao cho bảo tàng. Trên giấy có tên Nguyễn Viết Xuân và những ghi chép về đại đội pháo cao xạ đã chiến đấu tại Cha Lo. Cuốn sổ đưa người đọc trở lại một ngày tháng 11 năm 1964.
Nguyễn Viết Xuân sinh năm 1934 ở vùng Vĩnh Phúc trong một gia đình nông dân. Năm 1952, anh đi từ vùng tạm chiếm ra vùng tự do, xin nhập ngũ. Bắt đầu từ công việc trinh sát, anh trưởng thành qua những nhiệm vụ chỉ huy trong quân đội. Đến giai đoạn chiến tranh phá hoại bằng không quân, anh là cán bộ chính trị của đơn vị pháo cao xạ bảo vệ vùng trời Quảng Bình.
Đầu tháng 11 năm 1964, Đại đội 3 được bố trí tại vùng núi phía tây Quảng Bình, gần khu vực Cha Lo và đèo Mụ Giạ. Đơn vị sử dụng pháo 37 mm, tổ chức trực chiến và dự kiến cách đối phó với những tốp máy bay trinh sát, đánh phá tuyến giao thông. Nguyễn Viết Xuân tham gia công tác lãnh đạo, động viên cán bộ chiến sĩ sẵn sàng chiến đấu.
Cuốn nhật ký của chiến sĩ Trần Đình Khang từng ghi lại ngày về nhận công tác ở đơn vị trong tháng 3 năm 1964, nhắc đến các cán bộ chỉ huy, trong đó có Nguyễn Viết Xuân. Những dòng ấy không nhằm dựng tượng đài. Chúng là ghi chép đời thường của người trong cuộc, về công việc, đồng đội và mốc ngày tháng.
Ngày 18 tháng 11 năm 1964, máy bay Mỹ liên tiếp đánh vào khu vực trận địa. Theo hồ sơ sự kiện của Thông tấn xã Việt Nam, các tốp máy bay tổ chức nhiều đợt tiến công, thay đổi hướng tiếp cận, dùng hỏa lực khống chế pháo cao xạ. Khói bụi, tiếng nổ và sự chia cắt giữa những khẩu đội khiến việc chỉ huy đặc biệt khó khăn. Chiến sĩ ở vị trí pháo vừa phải bám mục tiêu trên trời vừa tìm cách giữ trận địa còn khả năng chiến đấu.
Khi một số pháo thủ bị thương và trận địa chịu thiệt hại, Nguyễn Viết Xuân trực tiếp xuống khu vực khẩu đội để động viên. Anh kêu gọi các chiến sĩ hướng thẳng hỏa lực vào mục tiêu, tiếp tục bắn trả. Câu hô được ghi lại và trở thành khẩu hiệu gắn với tên anh: “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”. Trong hoàn cảnh ấy, lời nói không chỉ mang ý nghĩa cổ vũ. Đó là mệnh lệnh phải giữ sự chủ động, không để hỏa lực đối phương làm tê liệt khả năng chiến đấu.
Nguyễn Viết Xuân bị thương nặng ở chân nhưng vẫn tiếp tục động viên đồng đội. Các nguồn có khác nhau ở trình tự thương tích và vị trí chính xác của anh trong những phút cuối, song đều xác nhận anh đã không rời bỏ trách nhiệm chỉ huy. Đơn vị tiếp tục đánh trả các đợt tiến công, bảo vệ trận địa và mục tiêu. Anh hy sinh trong ngày 18 tháng 11 năm 1964, khi trận chiến vẫn là một thử thách khốc liệt đối với những người còn sống.
Hồ sơ tác chiến ghi đại đội đánh trả bốn đợt tiến công, bắn rơi và làm hư hại một số máy bay. Những con số ấy nói đến hiệu quả chiến đấu, nhưng không thể đo được khoảng trống sau sự hy sinh của người chính trị viên. Giữa những khẩu pháo và hố bom, đồng đội phải lập tức tổ chức lại lực lượng. Sự đau xót không được phép làm nhiệm vụ ngừng lại.
Sau trận đánh, câu nói của Nguyễn Viết Xuân được phổ biến rộng rãi trong phong trào thi đua chiến đấu của bộ đội phòng không. Năm 1967, anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Khẩu hiệu trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ, đến mức có khi người ta nhớ câu chữ trước khi nhớ hoàn cảnh thật của nó. Nhưng một câu nói chỉ được hiểu trọn vẹn khi đặt trở lại trận địa, nơi người nói đang bị thương và đồng đội vẫn phải chiến đấu.
Cuốn nhật ký của Trần Đình Khang đem đến một hướng nhìn khác. Nó không chỉ lưu câu hô nổi tiếng, mà còn gợi bối cảnh có những người giữ sổ, ghi ngày nhận nhiệm vụ, kể tên đồng đội và sau chiến tranh tìm cách giữ lại kỷ vật. Việc một người thân phát hiện cuốn sổ năm 1982 rồi trao cho bảo tàng năm 2008 cho thấy ký ức chiến tranh có những chuyến trở về chậm rãi.
Trong những trang giấy nhòe nét ấy, Nguyễn Viết Xuân không chỉ là tên của một khẩu hiệu. Anh là người chỉ huy đã đi xuống khẩu đội khi trận địa nguy ngập; là đồng đội có tên bên những ngày tháng công tác; là một người lính không trở về sau trận Cha Lo. Nhờ cuốn nhật ký, câu chuyện được giữ thêm một lớp chứng cứ của người cùng đơn vị. Giấy có thể mục đi ở mép trang, nhưng sự cẩn trọng với từng dấu vết còn lại giúp lịch sử giữ được khuôn mặt con người.



