nh hùng LLVTND Hồ Văn Bé: Người chiến sĩ đặc công mưu trí, dũng cảm
Hồ Văn Bé tên thật là Võ Văn Lý, bí danh Hồng Hải, sinh năm 1942 tại làng Lương Hòa Lạc, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang).
Ông tham gia cách mạng năm 1962, là chiến sĩ bộ đội địa phương huyện Chợ Gạo. Năm 1963, ông là Chi ủy viên; Trung đội bậc phó rồi Trung đội bậc trưởng Đặc công, bộ đội địa phương huyện Chợ Gạo.
Năm 1967, ông được đề bạt làm Chính trị viên phó Đại đội Đặc công tỉnh Mỹ Tho. Năm 1968, ông được tham gia Ðoàn Anh hùng dũng sĩ miền Nam ra miền Bắc báo công. Tại Hà Nội, ông vinh dự được ba lần gặp Bác Hồ; từng được túc trực bên linh cữu của Người ngày Bác đi xa. Sau đó, ông được học Trung cấp Chính trị tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Năm 1970, ông trở về miền Nam, tiếp tục chiến đấu. Năm 1971, ông là Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 281 Đặc công Quân khu 8. Năm 1973, ông đảm trách nhiệm vụ là Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên Tiểu đoàn 269 rồi Tiểu đoàn 678 Đặc công Quân khu 8.

Anh hùng LLVTND Hồ Văn Bé
Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông đã tham gia chiến đấu tất cả 57 trận, đánh sập và phá hỏng 11 cầu giao thông, phá hủy 5 xe quân sự, diệt 29 và làm bị thương 19 lính địch. Tiêu biểu là các trận đánh sau đây:
Ngày 8-4-1964, ông cải trang thành người đi bắt ếch, trà trộn trong số dân đi làm ruộng, khéo léo gài mìn trên lộ Hòa Tịnh (huyện Chợ Gạo) và kiên trì phục chờ đến 16 giờ. Bỏ qua các xe chở lính đi trước, chờ cho 2 chiếc xe jeep chạy tới, ông cho nổ mìn, diệt 9 sĩ quan, trong đó có 2 cố vấn Mỹ, tiêu hủy 2 chiếc xe.
Ngày 24-4-1964, ông bí mật gài mìn trên lộ Phú Kiết (huyện Chợ Gạo), chờ cho xe chở cảnh sát và lính bảo vệ đi qua, ông cho nổ mìn vào chiếc xe chở bọn chỉ huy, diệt trung tá Trần Hoàng Quân, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu khu Định Tường, tỉnh đoàn phó bảo an, quận trưởng quận Bến Tranh, 2 cố vấn Mỹ.
Sau ngày thống nhất đất nước (30-4-1975), năm 1976, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội Khóa VI đơn vị tỉnh Tiền Giang. Năm 1977, ông mang quân hàm đại úy, Phó Chính ủy Trung đoàn 77, Sư đoàn 8, Quân khu 9. Năm 1981, ông là Thiếu tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 867 rồi Trung đoàn 506, Sư đoàn 868, QK9. Năm 1983, ông được thăng quân hàm Trung tá, Học viên Học viện Quân sự cấp cao. Năm 1985, ông là Bí thư Đảng ủy, Phó Tham mưu trưởng Sư đoàn 868, Quân khu 9. Năm 1986, ông là Đảng ủy viên, Phó Hiệu trưởng Trường Văn hóa Quân khu 9. Năm 1987, ông là Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 868, Quân khu 9. Năm 1988, ông được thăng quân hàm Thượng tá. Năm 1993, ông là Đại tá, Đảng ủy viên, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 868, Quân khu 9. Năm 1994, ông là Đảng ủy viên, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 8, Quân khu 9. Năm 1999, ông được Đảng, Nhà nước, Quân đội cho nghỉ hưu.



