Nhà tình báo Tư Cang và những hành trình vào ra lòng địch
Đỗ Khánh Linh


Gắn bó với sự nghiệp cách mạng từ năm 17 tuổi, Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) đã trải qua cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông nổi tiếng là một chiến sĩ tình báo gan dũng, từng nhiều năm trực tiếp hoạt động ngay trong lòng đô thị Sài Gòn và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Sau nhiều năm chiến đấu, nhà tình báo Tư Cang hiện nghỉ ngơi tại căn nhà nhỏ nằm bên kênh đào khu vực bán đảo Thanh Đa (quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh). Dù đã ở độ tuổi "xưa nay hiếm" và sống một mình sau khi người vợ thân yêu qua đời, ông vẫn giữ được trí nhớ vô cùng minh mẫn. Mỗi khi nhắc lại những ký ức hoạt động tình báo từ hơn nửa thế kỷ trước, ông vẫn nhớ như in từng mốc thời gian và chi tiết lịch sử.
Hành trình dấn thân vào ngành tình báo của ông bắt đầu từ năm 1961, khi ông đang là Chính trị viên Đại đội thuộc Sư đoàn 338 tại Xuân Mai. Được điều động vào miền Nam, ông cùng đồng đội trải qua hành trình đi bộ xuyên Trường Sơn kéo dài hơn 100 ngày để tới Chiến khu Đ, lên Trung ương Cục miền Nam rồi về Củ Chi. Trên cương vị Cụm trưởng Cụm tình báo H63, ông đã trực tiếp chỉ huy, điều hành mạng lưới tình báo và giao thông liên lạc gồm những tên tuổi điền hình như Phạm Xuân Ẩn, Mỹ Nhung, nhằm thu thập rồi chuyển tin tức chiến lược ra căn cứ.
Đến năm 1965, khi Mỹ mở rộng và leo thang chiến tranh, nhu cầu thông tin tình báo chiến lược trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhờ vốn tiếng Anh, tiếng Pháp thành thạo cùng bản lĩnh vững vàng, ông Tư Cang được giao nhiệm vụ trực tiếp thâm nhập nội thành Sài Gòn để điều hành cụm H63. Để qua mặt các hệ thống kiểm soát mật thiết của đối phương, ông liên tục thay đổi vỏ bọc, lúc là chủ đồn điền cao su giàu có, lúc lại là người phiên dịch hay thân nhân của giới quyền quý.
Trong những lần gặp gỡ nhà báo Phạm Xuân Ẩn (khi đó làm việc cho Tạp chí Time), ông Tư Cang thường đóng vai một chủ đồn điền ở Dầu Tiếng đi xe sang vào thành phố chơi. Biết đồng đội thích chim cảnh, ông mang tặng chim khiếu rồi trò chuyện cởi mở để làm chệch hướng sự chú ý của những kẻ xung quanh, qua đó âm thầm trao đổi thông tin quan trọng. Trong suốt thời gian nằm vùng, nơi ông lưu lại lâu nhất là nhà của ông Nguyễn Đăng Phong – một thương nhân kinh doanh vải giàu có và là cha của nữ biệt động Mỹ Nhung (Tám Thảo). Nhờ sự che chở của gia đình và các vỏ bọc khéo léo bên cạnh Mỹ Nhung, ông đã tiếp nhận an toàn nhiều tin tức tình báo giá trị do bà thu thập từ các sĩ quan Mỹ.
Sau nhiều năm liên tục vào ra thành phố trong nguy hiểm, chuyến trở lại Sài Gòn đáng nhớ nhất của ông chính là vào đợt tiến công mùa xuân năm 1975. Khi đó, ông đang theo học lớp bổ túc cán bộ chính trị cao cấp tại Hà Nội thì nhận lệnh cấp trên vào Nam chiến đấu. Rời Hà Nội giữa tháng 4 năm 1975, ông vào thẳng chiến trường và được giao đảm nhiệm chức vụ Chính ủy Lữ đoàn 316 Đặc công biệt động. Đơn vị của ông đã trực tiếp đánh chiếm và bảo vệ cầu Rạch Chiếc từ ngày 27 đến sáng 30-4-1975, mở cửa ngõ phía Đông cho lực lượng chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn.
Khi hòa bình lặp lại, nhà tình báo lão thành vẫn giữ thói quen đọc báo, viết sách và tham gia các buổi giao lưu truyền thống để truyền lửa cho thế hệ trẻ. Ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm ghi lại ký ức chiến trường như Sài Gòn Mậu Thân 1968, Tình báo kể chuyện, Bến Dược vùng đất lửa... Với ông, việc ghi chép và kể lại những câu chuyện lịch sử là cách gửi gắm thông điệp giúp thế hệ trẻ hiểu rõ giá trị của độc lập, tự do và những tổn thất, hy sinh mà cha anh đã trải qua.



