Khác

Nhạc sĩ Đỗ Nhuận

Đỗ Nhuận (10 tháng 12 năm 1922 – 18 tháng 5 năm 1991), quê ở Bình Giang, Hải Dương, là một trong những nhạc sĩ tiên phong của nền tân nhạc và âm nhạc cách mạng Việt Nam. Ông là thành viên sáng lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1957) và là Tổng Thư ký đầu tiên của Hội qua hai khóa I và II (1957–1983); được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về Văn học – Nghệ thuật.

An Giang17/08/2026phường Hải Dương (Phường Hải Dương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận
image.png

Tiểu sử & hoạt động

Đỗ Nhuận sinh tại thôn Vạc (nay là Hoạch Trạch), xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương vào năm Nhâm Tuất 1922; tương truyền do sinh vào tháng nhuận nên cha đặt tên ông là Đỗ Nhuận tl. Lên ba tuổi, ông được mẹ đưa ra Hải Phòng sống với cha đang làm lính kèn; để tiện việc nhập học, cha đã chọn ngày khai sinh cho ông là 10-12-1922, và cả tuổi thơ ông gắn với làng Lạc Viên tl. Người thầy đầu tiên, thầy Đối, vừa dạy chữ vừa dạy ông đánh trống và truyền cho ông bản hành khúc Cùng nhau đi hồng binh của Đinh Nhu; việc thầy bị mật thám bắt đã sớm nhen trong ông lòng yêu nước tl.

Năm 14 tuổi, ông tự học âm nhạc dân tộc và biết chơi sáo trúc, tiêu, đàn nguyệt, đàn tứ, đàn bầu; sau đó tiếp xúc với Tân nhạc, học guitare, banjo, violon và ghi âm. Ông tự nguyện làm hướng đạo sinh để hun đúc lòng yêu nước và bắt đầu sáng tác những bài hát mang hơi thở lịch sử. Năm 1939, ở tuổi 17, Đỗ Nhuận viết bài hát đầu tiên: bài Trưng Vương, nhân ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng ở tỉnh Hải Dương, được phổ biến rộng rãi và xuất bản ngay trong năm đó.

Cuộc gặp đồng chí Vũ Quý đã tạo bước ngoặt dấn thân cho cách mạng: ông bỏ dở trung học, làm đủ nghề để hoạt động, tuần nào cũng lên Hà Nội mua mực in và thạch trắng in truyền đơn, đồng thời tìm gặp bậc thầy Nguyễn Xuân Khoát để trau dồi âm nhạc tl. Thời kỳ này ra đời các bài hát yêu nước như Lời cha già, Đường lên Ải Bắc; mật danh hoạt động Đỗ Quyên cũng trở thành bút danh của ông tl. Sau một lần rải truyền đơn và treo cờ ở huyện Kim Thành, ông bị bắt tại Hải Dương, đưa lên Hỏa Lò rồi đày ở ngục Sơn La. Ông thực sự giác ngộ cách mạng từ năm 1943; trong tù, ông viết nhiều bài hát như Chiều tù, Côn Đảo, Hận Sơn La, Tiếng gọi tù nhân (lời Đào Duy Kỳ), Viếng mồ tử sĩ — tập ca khúc trong tù về sau được ấn hành tại Nhà xuất bản Hoa Lư năm 1946 với tên Nhạc hận tl.

Đầu năm 1945, ông vượt ngục Sơn La thành công, trở lại Hà Nội tìm các đồng chí cũ, gặp lại Nguyễn Đình Thi và trao hành khúc Du kích ca cho Văn Cao chép lại, ấn loát trên Báo Độc lập tl. Cảm hứng về chiến khu đưa ông viết tiếp Nhớ chiến khu trong cao trào tiến tới Tổng khởi nghĩa; ngày khởi nghĩa, ông tham gia giành chính quyền ở Kẻ Sặt quê nhà rồi lên Hà Nội tl. Những ngày đầu độc lập, ông sửa bản in cho Báo Cứu quốc, đồng thời học piano và đàn baian dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Nga Mellewitz, học violon với nhạc sĩ Victor tl.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ngay khi Nam Bộ kháng chiến (23-9-1945), ông có ngay Tiếng súng Nam BộĐường trường vô Nam. Qua đồng chí Đào Duy Kỳ, ông lập đội văn nghệ thiếu nhi "Sao vàng", sau đó lập đội kịch Nam Tiến với một ban nhạc họ Đỗ để đi biểu diễn phương Nam tl. Ngày 1-11-1946, ông cùng anh em đội "Sao vàng" trở thành người lính, và bài Đoàn lữ nhạc ông viết cho đội khiến mọi người quen gọi đó là Đoàn Lữ nhạc tl. Trong kháng chiến chống Pháp, cuộc trường chinh lên Tây Bắc đã giúp ông tìm về "mỏ dân ca" để làm mới ngôn ngữ âm nhạc của mình tl.

Cuối năm 1957, Đỗ Nhuận trở thành Tổng Thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam, với Chủ tịch là bậc thầy Nguyễn Xuân Khoát tl. Ông là nhạc sĩ duy nhất trong thế hệ đầu của Tân nhạc (đa phần tự học) đi tu nghiệp đại học tại Nhạc viện Tchaikovsky (Liên Xô, 1960–1963); về nước đúng lúc máy bay Mỹ ném bom miền Bắc, ông lập tức có Giặc đến nhà ta đánh tl. Trong những năm chiến tranh, ông từng sang Lào và với bút danh Udon Xihalạt đã viết Hành khúc Quân đội nhân dân Lào, Đàn với đàn voi và một bản Du kích ca mới tl. Con trai ông, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, cũng nối nghiệp âm nhạc và về sau tham gia phối khí, phục dựng nhiều tác phẩm của cha tl. Những năm sau thống nhất, do sức khỏe suy giảm, ông sáng tác thưa dần nhưng vẫn tận tụy truyền kinh nghiệm cho thế hệ sau cho đến khi qua đời năm 1991.

Sự nghiệp sáng tác

Những sáng tác cách mạng đầu tiên và thời kháng chiến chống Pháp: Từ những bài hát mang cảm hứng lịch sử như Chim than, Lời cha già, Đường lên Ải Bắc, ông soạn nên ca kịch Nguyễn Trãi – Phi Khanh. Sau khi ra tù và trong kháng chiến, ông viết nhiều tác phẩm gây ấn tượng mạnh: bên cạnh Áo mùa đông trữ tình là Ca ngợi Hồ Chủ tịch trang trọng, bên cạnh ca kịch Sóng cả không ngã tay chèo là hợp xướng Du kích Sông Thao cuồn cuộn âm hưởng bi tráng — tác phẩm nảy sinh từ hình ảnh một nữ du kích chèo thuyền dọc sông Thao mà ông tình cờ được kể lại tl.

Bộ ba hành khúc Điện Biên Phủ: Đặc biệt nhất là "bộ sử âm nhạc" về trận quyết chiến Điện Biên Phủ gồm Hành quân xa, Trên đồi Him LamChiến thắng Điện Biên, cùng ca cảnh về chiến thắng Tây Bắc. Hành quân xa (1953) ban đầu mang tên Đâu có giặc là ta cứ đi, được ông hoàn thành trên đường ra chiến dịch, trong phiên chế Đại đội 267 thuộc Đại đoàn 308 tl tl. Trong Chiến thắng Điện Biên, ông hòa trộn dân ca Tây Bắc với âm hưởng chèo — chất liệu điệu Sắp qua cầu do nghệ sĩ Cả Tam truyền dạy; bài hát được viết bên bếp lửa nhà sàn ở Mường Phăng đúng đêm 7-5-1954, cũng là ca khúc cuối cùng của ông trong kháng chiến chống Pháp tl. Trong chiến dịch này, ông còn có Con ngựa già văn công và hoạt cảnh chèo Hòn Đá tl. Ba chương trong bộ ba này về sau được ông phát triển thêm thành tổ khúc hợp xướng năm chương Hát về rừng núi Điện Biên nhân dịp kỷ niệm 10 năm chiến thắng, theo chia sẻ của thành viên trên trang tl.

Nhạc kịch và khí nhạc: Là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên bước tới opera, ông bắt đầu ấp ủ Cô Sao từ những năm tháng ở Tây Bắc và chính thức sáng tác từ khoảng năm 1960 khi tu nghiệp tại Tchaikovsky; ba năm sau vở hoàn thành và công diễn lần đầu tại Nhà Hát Lớn Hà Nội năm 1965, kể về mối tình cô gái Thái A Sao với người tù chính trị Việt Minh giữa cuộc đấu tranh ở vùng Tây Bắc tl. Trước đó, ông đã viết nhiều ca kịch ngắn làm thể nghiệm như Cả nhà thi đua, Sóng cả không ngã tay chèo, Anh Păn về bản, Hòn Đá tl. Tiếp đó là các opera Người tạc tượng (1971, viết về Tây Nguyên) và Nguyễn Trãi (1980; có tư liệu ghi là Nguyễn Trãi ở Đông Quan, phỏng theo kịch nói của Nguyễn Đình Thi) tl. Về khí nhạc, ông để lại những tác phẩm đi vào kinh điển như Tứ tấu Tây Nguyên cho đàn dây, Mùa xuân trong rừng cho flûte và piano, cùng giao hưởng thơ Dimitrov tl.

Ca khúc trữ tình, xây dựng và thời chống Mỹ: Tên tuổi ông vẫn gắn bó với những ca khúc đậm bản sắc dân tộc như Việt Nam quê hương tôi, Người chiến thắng là anh (viết cùng thầy V. Féré), Giặc đến nhà ta đánh, Vui mở đường, Trống hội tòng quân, Trai anh hùng gái đảm đang, Hát mừng các cụ dân quân, Quê ta từ đất dấy lên, Trông cây lại nhớ tới Người (cải biên hò ví dặm), Tôi thích thể thao, Em là thợ quét vôi, Đường bốn mùa xuân. Ngay khi đất nước còn chia cắt, ông đã "tự thống nhất" nó trong giai điệu Việt Nam quê hương tôi, và khi non sông liền một dải, ông ca khúc khải hoàn bằng Đường bốn mùa xuân tl. Theo chia sẻ của một thành viên trên trang, Đường bốn mùa xuân được ông viết lời 1 năm 1975, đến năm 1976 viết tiếp lời 2 tl; còn Áo mùa đông gắn với bối cảnh phong trào "Mùa đông binh sĩ" lo quân trang cho bộ đội những năm 1946 tl.

Tuyển tập và hồi ký: Đỗ Nhuận đã xuất bản nhiều tuyển tập: Chiến thắng Điện Biên Phủ (1961), Người tạc tượng (1973), Việt Nam quê hương tôi (1977), Tuyển chọn ca khúc Đỗ Nhuận (1994), cùng Album Audio tác giả, phim truyền hình Đỗ Nhuận, người nhạc sĩ của nhân dân (1996), tập hồi ký Âm thanh cuộc đời (mà ông bắt đầu viết từ năm 1986 tl) và chương trình Con đường Âm nhạc "Việt Nam quê hương tôi" trên VTV3 (2011). Di sản của ông trải rộng từ ca khúc đến ca kịch, kịch múa, nhạc chèo, nhạc phim, tác phẩm thính phòng và nhạc kịch, được ghi nhận là khối di sản văn học nghệ thuật của quốc gia tl.

Giai thoại & đời tư

Trong thời gian bị giam tại Nhà tù Hỏa Lò (1943–1944), Đỗ Nhuận cùng các bạn tù đã bí mật chế tạo một cây đàn mandolin từ những vật dụng có được: thùng đàn làm từ vỏ quả bầu do người nhà tiếp tế, mặt đàn là mảnh gỗ thùng cơm mài mỏng xuống nền xi măng, dây đàn tết từ một sợi dây phanh xe đạp ông giấu được — cây đàn giúp những buổi văn nghệ trong tù thêm sinh động; câu chuyện được chính ông ghi lại trong hồi ký Âm thanh cuộc đời (hồi ký) tl.

Về hoàn cảnh ra đời của Hành quân xa, một thành viên trên trang cho biết trong những ngày phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, ông tình cờ nghe các chiến sĩ tâm sự với nhau câu "đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi" và từ đó bật ra giai điệu bài hát tl.

Giải thưởng & danh hiệu

Đỗ Nhuận được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì và nhiều huân, huy chương, giải thưởng khác. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt I, 1995) — một trong những vinh dự cao quý nhất dành cho các văn nghệ sĩ Việt Nam.

Sưu tầm: https://bcdcnt.net/nhac-si/do-nhuan

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn