Bài viết

Nhân chứng của thời hoa lửa - Chàng trai Phạm Trí Liên anh hùng

Bắc Ninh22/08/2026Liên chi Đoàn Khoa Điện (Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - ĐHTN )1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những con người không cần đứng trên bục cao để được ngưỡng mộ.

Họ lặng lẽ sống giữa đời thường, nhưng trong ký ức của họ là cả một phần lịch

sử. chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường

Cảnh Thụy)–anh đã tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân

Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn – chính là một nhân chứng như

thế. Một người có công với cách mạng, mang trong mình những năm tháng

“hoa lửa” không bao giờ phai nhạt.

Ông sinh ra ở một làng quê nghèo ven sông. Tuổi thơ của ông gắn với

ruộng đồng, với những buổi chăn trâu thả diều, với ước mơ giản dị là được học

hành và lớn lên yên bình. Nhưng lịch sử đã chọn thế hệ ông bước vào một con

đường khác. Khi vừa tròn hai mươi tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ. Hôm tiễn

con trai lên đường, mẹ ông chỉ kịp dặn một câu:

“Con đi vì nước, mẹ tự hào. Nhưng phải sống mà trở về.”

Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo,

bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào

làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống

và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên

cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số

4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện

Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên

khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi

thế trận phục kích.

Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát

nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại

đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời

chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch

đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại,

tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi

trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải

phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán

bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến

thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của

thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên

giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn

cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như

Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây

dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu

(Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả

xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”.

Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước

vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận

tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao,

“khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực

hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em

mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí

Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa

vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh

vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li

nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2

người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người

chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc

đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi

được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông

phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm

nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau

uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn

pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh

nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số

phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ

giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo

về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi

mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên

vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi... 71 năm đã trôi qua, song ký ức của

những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên

Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã

dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động

địa cầu".

Sau ngày đất nước thống nhất, ông trở về quê hương với một bên chân

không còn lành lặn. Làng quê khi ấy tiêu điều, ruộng đồng hoang hóa, nhà cửa

xiêu vẹo. Nhưng thay vì chìm trong nỗi buồn, ông bắt tay vào dựng lại cuộc

sống từ đầu. Ông tham gia công tác xã, vận động bà con khôi phục sản xuất, sửa

trường học, làm đường làng. Dáng ông tập tễnh trên con đường đất đỏ, nhưng

bước đi thì chưa bao giờ chậm lại.

Ngôi nhà nhỏ của ông đơn sơ. Trên bức tường treo trang trọng tấm bằng

“Người có công với cách mạng” và vài tấm huân chương đã ố màu thời gian.

Nhưng với ông, phần thưởng lớn nhất không phải là danh hiệu, mà là sự đổi

thay của quê hương. Nhìn lũ trẻ cắp sách đến trường, nghe tiếng cười vang trên

cánh đồng, ông nói đó mới là điều khiến ông thấy mọi hy sinh đều có ý nghĩa.

Mỗi dịp 27/7, học sinh trong xã lại đến thăm và nghe ông kể chuyện. Ông

không nói nhiều về chiến công, mà kể về tình đồng đội, về lòng tin vào ngày

mai, về khát vọng hòa bình. Ông thường dặn:

“Các cháu sinh ra khi đất nước đã yên bình. Hãy học tập và sống tử tế.

Đó là cách tri ân thiết thực nhất.”

Nhìn ông ngồi trầm ngâm bên hiên nhà, tôi nhận ra chiến tranh có thể đã

lùi xa, nhưng ký ức của nó vẫn ở lại trong ánh mắt những người như ông. Họ là

chứng nhân của lịch sử, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Sự hy sinh của họ

không chỉ nằm trong những trang sách, mà hiện hữu trong từng nhịp sống hôm

nay.

Thời gian sẽ tiếp tục trôi, thế hệ mới sẽ lớn lên, nhưng hình ảnh những

người có công với cách mạng như ông Liên sẽ mãi là biểu tượng của lòng yêu

nước, của ý chí kiên cường và đức hy sinh thầm lặng. Họ nhắc chúng ta rằng

hòa bình không phải điều hiển nhiên, mà là thành quả của biết bao năm tháng

gian lao.Và vì thế, mỗi khi nhìn bầu trời yên bình không còn khói lửa, tôi lại

thầm biết ơn những nhân chứng của một thời không thể quên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn