Bài viết

Nhân chứng đường số 7

Đã 50 năm sau cuộc truy kích trên đường số 7 (nay là quốc lộ 25), nhưng những cựu binh vẫn hào hùng kể về câu chuyện một thời kiên cường, sẵn sàng đem cả tính mạng dâng cho Tổ quốc.

Lâm Đồng11/05/2026Đoàn xã Kiến Đức (Đoàn xã Kiến Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đã 50 năm sau cuộc truy kích trên đường số 7 (nay là quốc lộ 25), nhưng những cựu binh vẫn hào hùng kể về câu chuyện một thời kiên cường, sẵn sàng đem cả tính mạng dâng cho Tổ quốc.

Và cả chuyện về những đứa trẻ ngày ấy trong cuộc chạy loạn đã ngót nghét 60 tuổi, giờ con cái đề huề, người tìm thấy cha mẹ ruột, người trông ngóng mỏi mòn.3 ngày thu nhặt khí tàiTrong Chiến dịch Tây Nguyên, cuộc phục kích trên đường 7 của Quân Giải phóng đã tiêu hao nhiều sinh lực, phương tiện của địch, làm tan rã ý đồ co cụm về phòng thủ duyên hải miền Trung hòng tái chiếm Tây Nguyên. Trận này, đại tá Nguyễn Vi Hợi (Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân) là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 7 (Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64). Đại tá Hợi kể, đầu năm 1975 ông được điều về Sư đoàn 320, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên.“Ngày 14/3/1975, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ra lệnh toàn bộ binh lực, chủ yếu là Quân đoàn 2 VNCH nhanh chóng rút khỏi Tây Nguyên về co cụm ở đồng bằng duyên hải miền Trung để phòng thủ, củng cố lực lượng, tìm cách phản công chiếm lại Tây Nguyên”, đại tá Hợi nhớ. Trước tình thế này, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã cắt cử các đơn vị chốt chặn, đánh địch tại đường 7. Nhận lệnh cấp trên, các đơn vị thuộc Sư đoàn 320 tiếp cận toàn bộ thung lũng Cheo Reo, Phú Bổn để chặn đường rút lui của địch.

Lúc này, đại tá Hợi được lệnh đưa bộ đội ém quân tại khu vực đầu cầu Cây Sung (địa phận thị xã Ayun Pa bây giờ) nhằm chặn quân địch rút chạy qua cầu tiến về hướng Phú Yên. Phát hiện xe tăng của địch, đại tá bắn hai quả B40 làm một chiếc xe bốc cháy. Với quyết tâm không để địch vượt qua cầu, đại tá Hợi lên khỏi giao thông hào, hướng súng B40 vào chiếc xe đầu tiên bóp cò, xe bốc cháy, toàn bộ đội hình của địch khựng lại. Đến 12h ngày 19/3/1975, đơn vị của đại tá Hợi đã làm chủ chiến trường, giải phóng hoàn toàn Phú Bổn.

Thời điểm tháng 3 ở Phú Thiện nắng như đổ lửa. Từ quốc lộ 25 (tức đường số 7), rẽ vào chừng chục cây số qua những cánh đồng là tới nhà cựu chiến binh Đinh Nhiêu (làng Kte Lớn A, xã Ia Yeng, huyện Phú Thiện). Người đàn ông đã ngoài 70 nhưng vẫn cường tráng, vui vẻ, có sở thích đan lát những vật dụng của người Ba Na. Lấy cốc nước mời khách, cựu binh cười rồi khoe: “Cốc này của USA đấy, bền lắm”.

Dựa lưng vào cột nhà sàn, ông Nhiêu hồi nhớ, thời còn trẻ ông đã phục vụ, làm lính liên lạc cho cách mạng. Mãi đến năm 1972 ông tham gia các chiến dịch lớn ở Tây Nguyên. Thấy được sự dũng cảm, ý chí hơn người, chàng trai Ba Na tiếp tục được huấn luyện trong khu căn cứ cách mạng ở huyện Kbang (Gia Lai) để học võ thuật, cách chỉ huy. Tháng 3/1975, ông là trung đội trưởng Trung đội 2 (Đại đội 1, H11, thuộc Tỉnh đội Gia Lai - Kon Tum trước đây) có nhiệm vụ chỉ huy anh em người Ba Na băng rừng trong bí mật tới xã Ia Yok (huyện Ia Pa) để bảo vệ hai làng cách mạng ngăn giặc đánh vào.

Theo hồi ức của người cựu binh già, lúc đó dòng người hoảng loạn, giẫm đạp lên nhau kéo xuống đồng bằng. Ngày đó bộ đội ta buộc khăn trắng bên trái để dễ phân biệt. “Khí tài của địch nhiều lắm, từ xe tăng đến các loại vũ khí vứt như rác. Anh em chúng tôi phải đi thu, nhặt trong 3 ngày mới xong. Lúc ấy vừa vui vừa buồn. Vui vì thấy ánh sáng hòa bình, buồn vì đồng đội nằm xuống không được hưởng độc lập”,

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nhân chứng đường số 7 | Câu chuyện thời hoa lửa