Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Nhân chứng lịch sử cuộc Đồng khởi năm xưa - Phan Văn Thậm

Vĩnh Long20/01/2026Võ Thị Ngọc Oanh (xã đoàn Mỹ Chánh Hòa)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại tá Phan Văn Thậm: “Đây là một giai đoạn lịch sử không thể nào quên”

Nhớ lại diễn biến cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở 3 xã Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày (nay là Mỏ Cày Nam) vào tháng 1-1960, Đại tá Phan Văn Thậm như trở về cái tuổi 26, 27… Ông kể: “Khi ấy tôi là người được cài vào cơ sở địch ở xã Định Thủy, đợi thời cơ nổi dậy, kết hợp trong và ngoài phá ác, diệt kềm, giành quyền làm chủ về tay nhân dân. Tôi được giao 2 nhiệm vụ chủ yếu là nắm tình hình ruồng ráp, phá cơ sở địch và nắm lực lượng trong lòng địch, xây dựng cảm tình, hạn chế ác ôn.

Trong lúc tình hình miền Nam như nước sôi lửa bỏng, tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 15, xác định phương pháp cơ bản của cách mạng miền Nam là “Dùng sức mạnh của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng võ trang ít hoặc nhiều để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến, dựng lên chính quyền nhân dân”. Đầu tháng 1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định đã truyền đạt chủ trương khởi nghĩa cho các đồng chí trong Huyện ủy và chủ trương tiến hành đợt khởi nghĩa đồng loạt, bắt đầu từ 17-1-1960 và chọn 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm chỉ đạo của Tỉnh ủy. Trong đó, Định Thủy được chọn làm điểm mở màn cho Bến Tre Đồng khởi và quyết tâm giành thắng lợi ngay từ trận đầu.

Với ý định cướp thêm vũ khí địch, Ban Chỉ huy tại xã Định Thủy chủ trương lập kế hoạch khởi nghĩa vào đêm 16, bằng cách mời đoàn hát của địch về hát và dụ thêm tổng đoàn dân vệ ở xã Tân Thành Bình về Định Thủy để cùng tiêu diệt gọn. Tuy nhiên, kế hoạch không thành, ta tiến hành kế hoạch thứ hai vào đêm 16, lực lượng ta chia làm 3 mũi bao vây đình Định Phước, quyết diệt tổng đoàn. Mũi thứ nhất và mũi thứ hai bí mật tiếp cận và bám sát đình. Mũi thứ ba công khai. Điểm phối hợp với nội tuyến là tôi (Tư Thậm), Chín Huề, Hai Truyện, Tư Chơi, Hai Lượng giả dạng lính tuần tra công khai đi vào tiếp cận địch.

Theo kế hoạch, mũi ba tiến vào quan sát trước rồi sẽ nháy đèn pin ám hiệu cho hai mũi bên ngoài xông vào. Nhưng do ruộng lúa cao, không thấy đèn pin nháy nên kế hoạch này không thành, đội Tý phát hiện động tĩnh và nghi ngờ, đề cao cảnh giác. Ngay trong đêm đó, Ban Chỉ huy thống nhất: Tình hình chung là không thể kéo dài mà phải hạ quyết tâm đeo bám, diệt cho được tổng đoàn vào sáng 17-1; đồng thời chỉ đạo cho cơ sở ta trong đồn Vàm Nước Trong nổi dậy khởi nghĩa.

Lần này, ta huy động lực lượng xung kích, bố trí bao vây tổng đoàn, bịt kín các ngả đường, bí mật bám sát tổng đoàn, diệt những tên lính đi lẻ, lấy súng. Đến 8 giờ sáng, ngày 17-1, ta tổ chức cải trang làm người đi quét mộ. Gặp đội Tý tại quán cà phê, ta kết hợp với lính Năm Vị (1 cảm tình của ta) “ôm hè, bắt hè” diệt đội Tý và lấy súng. Tiếng súng diệt đội Tý nổ lúc 8 giờ tại điểm Định Thủy, báo hiệu cuộc Đồng khởi lịch sử của Mỏ Cày và Bến Tre đã nổ ra. Tiếp đó, bắt luôn vợ đội Tý và 2 tên lính nữa. Đến 9 giờ sáng, tôi hoàn thành nhiệm vụ, thu nhiều súng của địch. Đến chiều, ta diệt bọn tổng đoàn dân vệ, diệt bót Vàm Nước Trong, thu tất cả 24 súng, nhiều đạn và lựu đạn. Xã Định Thủy hoàn toàn giải phóng.

Sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Chỉ huy thống nhất, sự quyết tâm của địa phương đã tạo nên thế trận 3 mặt gồm chính trị, quân sự và binh vận. Cuộc nổi dậy ở Định Thủy giành thắng lợi lớn. Đến đêm 17-1, Mỏ Cày hoàn thành nhiệm vụ cơ bản. Từ ngày 17 đến 24-1, quần chúng nhân dân đồng loạt nổi dậy diệt ác phá kềm khắp nơi trong tỉnh…”.

Đại tá nhớ như in diễn biến cuộc khởi nghĩa mà ông là người trực tiếp tham gia, đóng góp nhiều thành tích to lớn. Đại tá nói, từ thắng lợi này, phong trào đấu tranh trong quần chúng nổi lên cao. Các cuộc khởi nghĩa sau, khí thế đấu tranh trong quần chúng nhân dân càng sôi nổi với mõ, trống, đèn đuốc chạy rân trời. Đến tháng 9-1960, cách mạng ta cần bao nhiêu lực lượng thì có bấy nhiêu.

Khó khăn lớn nhất của ta là sự tương quan không cân xứng về phương tiện vũ khí. Với lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước, quyết bảo vệ quê hương của quân và dân ta, nhiều tấm gương yêu nước đã xuất hiện như Tư Thậm (Đại tá Phan Văn Thậm), Lê Bình An, Chín Huề, Mười Kỷ, Hai Thủy… Đó là những thanh niên đầy lòng dũng cảm, tràn trề khí phách, nồng nàn tình yêu nước và đã đóng góp lớn cho thành công của cuộc Đồng khởi lịch sử năm 1960.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nhân chứng lịch sử cuộc Đồng khởi năm xưa - Phan Văn Thậm | Câu chuyện thời hoa lửa