Nhân chứng thời hoa lửa-Anh hùng Lực lượng vũ trang Thượng tướng Trần Văn Quang
Trong dòng chảy lịch sử vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, Thượng tướng Trần Văn Quang hiện lên như một biểu tượng của sự kiên trung, trí tuệ và đức độ. Ông không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự tài ba trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc mà còn là người đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nên ngôi nhà chung của các cựu chiến binh Việt Nam.
Nhân chứng thời hoa lửa-Anh hùng Lực lượng vũ
trang Thượng tướng Trần Văn Quang
Trong dòng chảy lịch sử vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam,
Thượng tướng Trần Văn Quang hiện lên như một biểu tượng của sự kiên trung,
trí tuệ và đức độ. Ông không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự tài ba trong hai
cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc mà còn là người đặt những viên gạch
đầu tiên xây dựng nên ngôi nhà chung của các cựu chiến binh Việt Nam.
Trước hết, ông là người con ưu tú của mảnh đất Nghệ An anh hùng.
Thượng tướng Trần Văn Quang tên thật là Trần Thúc Kính, bí danh Bảy Tiến,
sinh năm 1917 tại xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra và
lớn lên trên mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống hiếu học và tinh
thần quật khởi, ngay từ thuở thiếu thời, người thanh niên Trần Thúc Kính đã
sớm nung nấu chí khí cách mạng. Năm 1936, khi mới 19 tuổi, ông bắt đầu tham
gia các hoạt động trong phong trào Mặt trận Dân chủ tại quê nhà. Nhờ sự nhiệt
huyết và tư duy sắc bén, ông nhanh chóng được đứng vào hàng ngũ của Đảng
Cộng sản Đông Dương vào tháng 10 năm 1936. Đây là bước ngoặt quan trọng,
định hình toàn bộ cuộc đời cống hiến không mệt mỏi của ông cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc.
Tiếp theo, ông trải qua những năm tháng gian khổ trong lao tù và bước
ngoặt Tổng khởi nghĩa. Cuộc đời hoạt động của ông không trải đầy hoa hồng.
Thực dân Pháp đã nhiều lần bắt giữ và tra tấn ông hòng khuất phục ý chí của
người chiến sĩ cộng sản. Năm 1939, ông bị bắt tại Vinh, bị kết án tù và lưu đày
qua nhiều nhà lao khắc nghiệt. Đỉnh điểm là năm 1941, ông bị đày lên nhà tù
Đắc Lay ( Kon Tum). Tại đây, dù bị giam cầm giữa chốn rừng thiêng nước độc,
ông vẫn cùng các đồng chí giữ vững khí tiết, biến nhà tù thành trường học cách
mạng. Tháng 6 năm 1945, ông vượt ngục thành công và trở về Nghệ An. Với
kinh nghiệm và uy tín của mình, ông được phân công làm Ủy viên quân sự
trong Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Nghệ An, trực tiếp chỉ đạo giành chính quyền tại
đây trong Cách mạng Tháng Tám. Đây là dấu mốc đầu tiên khẳng định tài năng
tổ chức và lãnh đạo của ông.
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Thượng tướng Trần
Văn Quang được Đảng và Quân đội giao phó những trọng trách quan trọng.
Ông lần lượt kinh qua các chức vụ: Chính ủy Chiến khu 4, Chỉ huy trưởng kiêm
Chính ủy Chính khu Bình - Trị - Thiên. Dấu ấn đậm nét nhất của ông trong thời
kỳ này chính là giai đoạn giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng
Tham mưu (1951–1954). Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, ông là một
trong những cộng sự đắc lực nhất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Với tư duy
chiến thuật nhạy bén, ông đã tham gia soạn thảo các kế hoạch tác chiến, giúp Bộ
Chỉ huy chiến dịch đưa ra những quyết định mang tính quyết định, góp phần
làm nên chiến thắng " lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Bên cạnh đó, ông còn là vị tướng trên các chiến trường ác liệt miền Nam
và Lào. Khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Thượng
tướng Trần Văn Quang ( lúc này mang bí danh Bảy Tiến) lại tiếp tục lên đường
vào Nam. Năm 1961, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân
dân Việt Nam, sau đó được điều động làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị
Thiên. Trị Thiên - Huế là một địa bàn cực kỳ ác liệt, là nơi đối đầu trực tiếp giữa
ta và địch ở giới tuyến quân sự tạm thời. Tại đây, ông đã cùng quân và dân vùng
lên trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tạo ra bước
ngoặt làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Không chỉ giới hạn trong biên giới
quốc gia, ông còn được giao nhiệm vụ quốc tế cao cả tại nước bạn Lào. Với
cương vị Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào ( Đoàn 959), ông đã thể
hiện tầm vóc của một nhà quân sự quốc tế, thắt chặt tình đoàn kết liên minh
chiến đấu Việt - Lào, giúp nước bạn giải phóng nhiều vùng đất chiến lược.
Ông là người Chủ tịch đầu tiên của Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Sau
ngày thống nhất đất nước, Thượng tướng Trần Văn Quang giữ chức Thứ trưởng
Bộ Quốc phòng ( 1981–1992). Tuy nhiên, một trong những cống hiến lớn nhất
của ông sau khi rời trận mạc chính là việc xây dựng tổ chức Hội Cựu chiến
binh. Năm 1989, Hội Cựu chiến binh Việt Nam được thành lập. Với uy tín và
tâm huyết, Thượng tướng Trần Văn Quang được bầu làm Chủ tịch Hội Cựu
chiến binh Việt Nam đầu tiên. Ông giữ cương vị này suốt hai nhiệm kỳ từ năm
1992 đến năm 2002. Trong những năm đầu đầy khó khăn, ông đã lặn lội đến
khắp các vùng miền để xây dựng tổ chức Hội từ Trung ương đến địa phương.
Dưới sự lãnh đạo của ông, Hội Cựu chiến binh đã thực sự trở thành chỗ dựa tin
cậy của Đảng và chính quyền, là nơi sưởi ấm tình đồng đội cho những người
lính trở về sau chiến tranh. Lực lượng tiên phong trong phong trào xóa đói giảm
nghèo và giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.
Cuối cùng, ông là một tấm gương cho hậu thế học tập. Thượng tướng
Trần Văn Quang qua đời vào ngày 3 tháng 11 năm 2013, hưởng thọ 97 tuổi.
Cuộc đời ông là minh chứng sống động cho phẩm chất " Bộ đội Cụ Hồ": tận
trung với Đảng, tận hiếu với dân, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng
đánh thắng. Với những công lao to lớn, ông đã được Nhà nước trao tặng Huân
chương Sao Vàng – phần thưởng cao quý nhất. Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn
nhất đối với ông chính là sự kính trọng của đồng đội và tình cảm yêu mến của
nhân dân. Ông ra đi, nhưng tinh thần và những bài học về tác chiến, về lòng
nhân hậu và sự kiên định vẫn mãi là kim chỉ nam cho các thế hệ sĩ quan và
chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hôm nay và mai sau.


