NHÂN DÂN ĐĂK RUỒNG ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH, TIẾN ĐẾN XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH BẠI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946 – 1954)
NHÂN DÂN ĐĂK RUỒNG ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH, TIẾN ĐẾN XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH BẠI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946 – 1954)
Để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 19-4-1946, Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam họp tại tỉnh Pleiku. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi tới Đại hội bức thư, có đoạn viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Giang sơn và Chính phủ là giang sơn Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, để giữ gìn non nước ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”. Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khắc sâu vào ý chí của đồng bào các dân tộc và họ đã ra sức thực hiện thắng lợi những lời chỉ bảo của Người. Ngày 26-6-1946, quân Pháp tiến đánh Kon Tum theo đường số 14; chúng tiến công đánh chiếm cầu Đăk Bla; một cánh khác của Pháp vượt sông tiến đánh vào Phương Quý và từ đó đánh xuống trung tâm thị xã Kon Tum. Quân ta, tiểu đoàn 4 trung đoàn 67 cùng quân dân chặn đánh địch ở bờ sông Đăk Bla tiêu diệt nhiều tên. Chính quyền thị xã một mặt tổ chức cho nhân dân tản cư, mặt khác chỉ huy lực lượng vũ trang, tự vệ đối phó với địch. Nhưng do không lường hết được quy mô tiến công của chúng, phương án tác chiến thiếu cụ thể, nên khi địch tấn công, ta không chủ được thế trận đến 17 giờ cùng ngày quân Pháp đã chiếm được toàn bộ thị xã Kon Tum. Ngày 26 và ngày 27-6-1946, địch tiếp tục tấn công chiếm lại các địa bàn chiến lược như Đăk Tô, Đăk Glei, tiến xuống phía Đông đánh chiếm vùng Kon Braih, Kon Plong, kiểm soát đường số 5.
40 Theo lời kể của ông Nguyễn Tập - Nguyên cán bộ ở lại sau năm 1954; Nguyên phó Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum.Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến! Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.”41 Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với cả tỉnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, phá bỏ những công trình xây dựng kiên cố, đào cắt giao thông trên những tuyến đường huyết mạch. Nhân dân tản cư, thực hiện vườn không nhà trống để trường kỳ kháng chiến. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp42 tỉnh Kon Tum gặp nhiều khó khăn, cơ sở Đảng, chính quyền sơ tán về vùng đồng bằng, một số còn lại ở Kon Tum chờ cấp trên phân công nhiệm vụ, tiếp tục hoạt động gây dựng cơ sở. Để xây dựng lại cơ sở, củng cố địa bàn chiến lược ở Kon Tum và Tây Nguyên. Trước tình hình đó, Xứ ủy Trung Kỳ, Phân ban quốc dân thiểu số miền Nam Trung Bộ và sau đó là Ủy ban Chỉ huy Tây Nguyên đã cử các đội công tác vũ trang lên gây dựng cơ sở chính quyền cách mạng ở Kon Tum.
41 Hồ Chí Minh tuyển tập, Tập 1, Nxb Sự Thật, 1980, trang 403-404. 42 Thực hiện sắc lệnh của Hồ Chủ Tịch, ngày 22-5-1946, Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam quyết định cải tổ Vệ Quốc đoàn ở Nam Trung Bộ và biên chế lại thành 3 đại đoàn với các phiên hiệu 31, 27, 23 gồm 11 trung đoàn và 1 tiểu đoàn độc lập và giải thể chiến khu V, tháng 12-1946 tổ chức thành khu hành chính quân sự gọi là khu V (số tỉnh như chiến Khu 5).Từ đồng bằng tiến lên Kon Tum, ban đầu các đội công tác dựa vào bàn đạp tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi hướng về phía tây men theo những con đường mòn tiến lên gây lại cơ sở ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh như Kon Plong, Đăk Glei. Cho đến giữa năm 1947, sau hơn một năm kiên trì trụ bám, tuyên truyền, vận động, các đội công tác vũ trang đã xây dựng được các cơ sở chính quyền cách mạng vững chắc ở khu căn cứ Mường Hoong thuộc huyện Đăk Glei và các vùng sát ranh giới phía đông và phía bắc các tỉnh Trung Châu, với hơn 100 làng. Từ sự phát triển mạnh mẽ của chính quyền cách mạng, các chi bộ Đảng lần lượt được tổ chức thành lập. Tháng 4-1947, chi bộ Mang La được thành lập với số lượng 4 đảng viên, gồm có đồng chí Huỳnh Cẩm, A Rều, A Khòm, A Klo. Đồng chí Huỳnh Cẩm được bầu làm Bí thư chi bộ. Đây là chi bộ đảng đầu tiên ở huyện Kon Plong43. Tháng 7-1947, trên địa bàn tỉnh Kon Tum, Xứ ủy Trung kỳ đã quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng Khu Đông (Kon Plông) và Khu Bắc (huyện Đăk Glei). Mỗi Ban Cán sự Đảng có 5 ủy viên để chỉ đạo các mặt công tác. Ban Cán sự Khu Bắc do đồng chí Nguyễn Hữu Tiến làm Bí thư; Ban Cán sự Khu Đông do đồng chí Vân Sơn44 làm Bí thư; Cùng với Ủy ban Hành chính (hay Ủy ban chỉ huy) hai khu Đông và Bắc, Ban Cán sự Đảng các khu tích cực lãnh đạo, chỉ đạo gây dựng, mở rộng cơ sở chính quyền và thu được nhiều kết quả45. Tháng 3-1948, Khu ủy 5 quyết định sáp nhập hai Ban Cán sự Đảng Khu Đông và Khu Bắc thành Ban Cán sự Đảng tỉnh Kon Tum. Thành phần gồm các đồng chí: Nguyễn Trọng Ba (Bí thư), Nguyễn Hữu Tiến (phó Bí thư) và đồng chí Vân Sơn (ủy viên); Ủy ban Kháng chiến miền Nam Trung bộ ra Nghị định thành lập Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Kon Tum, ông Nay Derr, người dân tộc Gia Rai, được chỉ định giữ chức Chủ tịch, ông Nguyễn Hữu Tiến (Ủy viên thường trực) và ông Võ Bẫm (Ủy viên quân sự)46. Để bảo vệ cho bộ máy chính quyền tỉnh, đồng thời thay cho lực lượng vũ trang làm công tác trừ gian, bảo mật. Cách mạng về hướng Tây, tạo thế liên hoàn với vùng kháng chiến Đông bắc Campuchia và Nam Lào. Đội 117 do đồng chí Đỗ Tiến Tân làm đội trưởng phụ trách vùng Đông đường 14. Sau một thời gian tổ chức, vận động quần chúng nhân dân, xây dựng cơ sở Đảng, phía đông Đông đường 14 có 62 đảng viên sinh hoạt trong các chi bộ cơ quan, đội công tác ở các làng, xã. Đây là những đảng viên đầu tiên ở phía Bắc tỉnh Kon Tum, có ý nghĩa quan trọng trong phong trào ở vùng căn cứ kháng chiến48. Hè năm 1949, lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với các tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk mở đợt hoạt động đẩy mạnh tiến công quân Pháp trên đường Đăk Wen, Đăk Vy và bao vây phong tỏa đồn Kon Plong, Kon Braih gây cho địch nhiều tổn thất. Với sự phát triển mạnh của chính quyền Bắc Tây Nguyên, thực hiện chủ trương của Liên Khu ủy 5, ngày 15-4-1950, hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai tiến hành sáp nhập về tổ chức và hành chính gọi là tỉnh Gia - Kon. Liên Khu ủy 5 chỉ định Ban Cán sự Gia - Kon do đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ, Liên khu ủy viên làm Bí thư từ tháng 3-1950 đến tháng 0l-1951 và từ tháng 01-1951 đến tháng 8- 1951 do đồng chí Trịnh Huy Quang, Liên khu ủy viên thay cho đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ. Lực lượng vũ trang tập trung ở Kon Tum trực thuộc Trung đoàn 126, nay sáp nhập về Trung đoàn 120 (Bắc Tây Nguyên). Trung đoàn 120 do đồng chí Trương Cao Dũng làm Trung đoàn trưởng. Hai tỉnh đội Kon Tum và Gia Lai sáp nhập thành Ban dân quân Bắc Tây Nguyên trực thuộc Trung đoàn 120 do đồng chí Lê Văn Đức làm Trưởng ban và đồng chí Vân Sơn làm Phó ban. Tháng 5-1950, Ban Cán sự tỉnh Gia - Kon ra quyết định chia địa bàn quản lý trong tỉnh thành 7 huyện (tương đương 7 khu). Phạm vi tỉnh Kon Tum (cũ) có 3 huyện: Đăk Glei (Khu 1), Đăk Tô (Khu 2), Kon Plông (Khu 3) và chỉ định Ban cán sự các huyện (khu). Ban chỉ huy quân sự, biên chế lực lượng vũ trang Trung đoàn l20 có tám đại đội độc lập, hai đại đội cơ động, 10 đội vũ trang tuyên truyền, các đội l05, l06, l09 hoạt động trên địa bàn Kon Tum. 43 Ban chấp hành Đảng bộ xã Hiếu (2018). Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, quân và dân xã Hiếu giai đoạn 1930-1975, Giấy phép xuất bản số: 20/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Kon Tum cấp ngày 18/4/2018, tr 38. 44 Đồng chí Vân Sơn tên thật là Nguyễn Văn Nhung. 45 Tỉnh ủy Kon Tum. Sđd. Tr. 191.
46 Khoảng đầu năm 1949, ông Nguyễn Văn Sao thay ông Võ Bẫm (theo tài liệu Báo cáo của Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung bộ từ ngày toàn quốc kháng chiến đến 18-5-1949). 47 Tỉnh ủy Kon Tum. Sđd. Tr 202.
48 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum tập 1. Sđd. Trang 175-176.Hội nghị Liên khu ủy 5 vào giữa năm 1950 đã đề ra nhiệm vụ chung cho chiến trường Tây Nguyên là: "Ra sức động viên mọi khả năng của nhân dân, củng cố và phát triển cơ sở, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch". Đối với tỉnh Gia - Kon, Liên Khu ủy chỉ rõ nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là: "Tích cực xây dựng cơ sở địch hậu, phát động chiến tranh nhân dân đến cực độ, phá nguồn bổ sung của địch, chú trọng vùng Đăk Tô, Đăk Glei, Đăk Pớt49". Tháng 10-1950, Hội nghị cán bộ quân dân chính Đảng tỉnh Gia - Kon họp lần thứ nhất tại Mỹ Hòa (Bình Định). Hội nghị đã xác định nội dung phương châm đẩy mạnh kháng chiến ở Gia - Kon, xây dựng Bắc Tây Nguyên thành căn cứ chiến lược, tích cực bảo vệ vùng giải phóng. Hội nghị đề ra biện pháp tăng cường đội ngũ cán bộ vận động quần chúng, thành lập ban dân vận, công vận, tiếp tục xây dựng cơ sở, thành lập tiểu đoàn 14 làm nhiệm vụ tác chiến hỗ trợ cho lực lượng vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở ngay trong lòng địch, hỗ trợ cho việc phát động chiến tranh du kích, đồng thời tích cực phát triển lực lượng vũ trang trong đồng bào các dân tộc địa phương, tăng cường huấn luyện, đẩy mạnh việc sử dụng vũ khí tự tạo, vũ khí thô sơ và ra sức vận động phá các ổ vũ trang (GUOM)50. Sau ngày sáp nhập tỉnh, 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 126, sáp nhập vào Trung đoàn 120 do Trương Cao Dũng làm Trung đoàn trưởng. Hai tỉnh Gia Lai - Kon Tum sáp nhập thành Ban Dân quân Bắc Tây Nguyên do Lê Văn Đức làm Trưởng ban và trực thuộc Trung đoàn 120. Các khu của tỉnh Kon Tum được tăng thêm biên chế, ngoại trừ Khu 1 (Đăk Glei) đã có tổ chức cơ sở Đảng do Nguyễn Tuấn Tài (Trần Kiên) - Bí thư Ban Cán sự, kiêm Tiểu đoàn trưởng Lương Ngọc Quyết, sau là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 851. Ban Cán sự Đảng Kon Plong hoạt động dưới danh nghĩa Ban vận động chính quyền do Phạm Chánh làm Bí thư và các đồng chí Lê Hai, Bùi Thể, Huỳnh Họa làm ủy viên.
49 Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đăk Hà. Sđd. Tr 71. 50 "GUOM": Group unifié des races opprimeés (Nhóm liên kết các dân tộc bị áp bức). 51 Sau ngày sáp nhập tỉnh Trần Kiên được điều về phụ trách Trung đoàn phó 120.Ban Cán sự Đảng Khu 2 (Đăk Tô) cũng được chỉ định do Nguyễn Viên làm Bí thư và các ủy viên Phạm Trọng (Nhớ)52, Năm Điểu, Trương Đình Chương, Mười Diêu và có hai thành viên tiêu biểu cho đồng bào dân tộc ở địa phương là ông Ba Duân và Ba Brêh. Thực hiện đề án xây dựng cơ sở địch hậu, các đại đội độc lập được kiện toàn đi lên phía trước, luồng sâu vào lòng địch. Tiểu đoàn tập trung của tỉnh làm nhiệm vụ tác chiến hỗ trợ các đội vũ trang tuyên truyền được cơ cấu gồm nhiều thành phần chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau mà các đội viên đều được huấn luyện về phương pháp vận động quần chúng và chủ trương, chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền không chỉ thu được nhiều kết quả trong xây dựng cơ sở chính trị, vũ trang, củng cố chính quyền mà còn gây mầm phong trào sản xuất tự cấp, tự túc tại chỗ. Chỉ sau thời gian ngắn các đội vũ trang công tác đã vượt mọi khó khăn, gian khổ xâm nhập được nhiều vùng xung yếu, tranh chấp giữa ta và địch. Hai đội 105, 106 đã gây dựng được cơ sở trong 65 làng phía Tây đường 14 phát triển sang Đăk Glei, nối hành lang với Hạ Lào và xây dựng cơ sở vững chắc ở phía Bắc tỉnh Kon Tum. Tháng 8-1951, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu 5 chủ trương mở chiến dịch hè Bắc Tây Nguyên, hướng chính là Kon Tum, nhằm tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, phá rã các ổ vũ trang, đẩy mạnh phong trào nhân dân kháng chiến, phá kế hoạch của Pháp dùng bọn phiến loạn người Hrê (Sơn Hà) quấy rối vùng tự do miền Tây Quảng Ngãi, rèn luyện cho bộ đội ta đánh cứ điểm có công sự kiên cố. Đồn Kon Plong được chọn làm mục tiêu tấn công. Cứ điểm này là một phân chi khu của địch án ngữ Đông Kon Tum và là bàn đạp đánh ra các vùng tự do của ta. Địch xây dựng công sự rất kiên cố và bố trí 200 quân đóng giữ. Ngày 6-8-1951, Trung đoàn chủ lực 108 của Liên khu tiêu diệt đồn Kon Plong. Sau 14 giờ chiến đấu, quân ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa, diệt tên đồn trưởng người
52 Thời gian sau Phạm Trọng làm Bí thư Ban cán sự thay Nguyễn Viên.Pháp và 2 đại đội địch, bắt sống 195 tên, thu 148 súng các loại. Số còn lại rút chạy khỏi đồn. Phát huy thắng lợi đó, ngày 14-8-1951, được sự hỗ trợ của Trung đoàn 803, lực lượng du kích địa phương cùng với nhân dân các dân tộc trên địa bàn Kon Rẫy trong đó Nhân dân xã Đăk Ruồng đã tiến công tiêu diệt đồn Kon Braih; ngày 15-8-1951 ta tiêu diệt tiếp đồn Kon Pông và tấn công liên tục các đồn còn lại trên trục đường 5 và Kon Mơ Ha. Với những chiến thắng vang dội về quân sự, căn cứ địa kháng chiến đã được tiếp tục mở rộng về phía Đông của Kon Tum (tức địa bàn huyện Kon Plong, Kon Rẫy ngày nay). Sau khi tiêu diệt đồn Kon Plong, Trung đoàn 108 tiếp tục vận động nhân dân khôi phục và củng cố các căn cứ du kích, căn cứ cách mạng. Qua chiến dịch Hè - Thu năm 1951 ở Bắc Tây Nguyên, quân và nhân dân Kon Tum đã đạt được những mục tiêu cơ bản, đánh tiêu hao bộ phận sinh lực địch, tích lũy thêm kinh nghiệm chiến đấu, rèn luyện kỹ thuật cho bộ đội và dân quân du kích, tăng cường niềm tin, phấn khởi của quần chúng nhân dân vào kháng chiến, nhất là vùng địch hậu như ở Kon Braih, Kon Plong. Để đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng, xây dựng căn cứ kháng chiến, tháng 10-1951, Liên Khu ủy 5 quyết định thành lập Mặt trận Miền Tây53, phạm vi gồm phần lớn địa bàn tỉnh Kon Tum (cũ) và 4 huyện miền Tây tỉnh Quảng Ngãi là Ba Tơ, Trà Bồng, Minh Long, Sơn Hà. Ban cán sự Đảng miền Tây gồm 4 đồng chí do Khu ủy Khu 5 quản lý. Đồng chí Trương Quang Tuân (Vũ) - Khu ủy viên làm Bí thư kiêm Tư lệnh và Chính ủy Mặt trận Miền Tây54. Ban cán sự Miền Tây chỉ định cho Ban cán sự huyện Kon Plong lãnh đạo, quản lý phong trào kháng chiến ở các khu vực từ vùng xã Hiếu, Đăk Long (Kon Plong) đến dọc đường 14 (Đăk Tô). Nhưng trên thực tế, Ban cán sự Đảng chưa xây dựng được
53 Mặt trận Miền Tây còn gọi là Mặt trận 30. 54 Nguyễn Tập (2012). Tự chuyện đời tôi. Nxb Thông tin và Truyền thông, Đà Nẵng, tr36. 44 Sau này, Kon Bih là cơ sở cách mạng và là nơi đứng chân của cơ quan Huyện ủy H16 trong chống Mỹ, cứu nước. 46 Nguyễn Tập (2012). Tự truyện đời tôi. Sđd. Tr42.các cơ sở cách mạng ở địa bàn phía Tây của sông Đăk Snghé. Vùng Đăk Kôi, Đăk Ruồng, Ngok Réo còn trống cơ sở. Do vậy, Ban cán sự Đảng Miền Tây đã thành lập một đội vũ trang tuyên truyền, do đồng chí Thịnh làm Chính trị viên trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo khu vực Đăk Kôi, Đăk Ruồng gồm các làng Kon Trang Nó, Đăk Bia, Kon Bih, Kon Mong Tu, Kon Tu Rằng... Từ đó, vùng tranh chấp ở Kon Plong, Kon Braih ngày càng được mở rộng về phía Tây, qua khỏi vùng Kon Du, Kon Đin phía Đông bắc đồn Măng Đen lên đến các làng Kon Chênh, Kon Kơ Năng, Ngok Tu Răng đến vùng Kon Braih và mở rộng đến sát khu vực thị xã Kon Tum. Đội tuyên truyền vũ trang của Ban cán sự Miền Tây hoạt động ở đây và bắt nối liên lạc được với Linh mục Toán tại nhà thờ Kon Zơ Reh ở phía Đông thị xã Kon Tum. Từ đây, địa bàn hoạt động của ta ngày càng mở rộng. Trước những thất bại liên tiếp trên khắp chiến trường ở Đông Dương, tháng 5-1953 với sự thỏa thuận của Chính phủ Mỹ, Pháp đã cử tướng Na-va (Navarre) sang làm tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương thay thế tướng Xa-lăng (Salan). Sau một thời gian nghiên cứu tình hình chiến trường, Na-va đệ trình lên Hội đồng Quốc phòng Pháp một kế hoạch quân sự lớn nhằm xoay chuyển tình thế, giành thắng lợi có tính quyết định, kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng. Nội dung kế hoạch Na-va chủ yếu dựa vào sự tăng viện súng đạn và tài chính của Mỹ, đưa quân từ chính quốc và các nước thuộc địa sang Đông Dương, ra sức xây dựng quân ngụy thành lực lượng tác chiến cơ động mạnh để đối phó và tiêu diệt lực lượng ta. Kế hoạch quân sự Na-va gồm 2 bước: Bước 1: Trong Thu - Đông năm 1953 và Xuân năm 1954 giữ thế phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, tiến công bình định miền Nam và miền Trung Đông Dương, xóa bỏ vùng tự do Liên khu 5 gồm các tỉnh Kon Tum, Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Bước 2: Mùa Thu năm 1954, chuyển toàn bộ lực lượng ra Bắc, mở cuộc tiến công chiến lược, giành thắng lợi có tính quyết định về quân sự, buộc Việt Minh phải ngồi vào bàn đàm phán theo điều kiện của Pháp đặt ra.Để thực hiện kế hoạch quân sự đầy tham vọng của mình, tướng Na-va chủ trương đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5 bằng chiến dịch mang tên Át-lăng (Atlante). Chiến dịch này được chia làm 3 bước: Bước 1: Sử dụng 22 tiểu đoàn theo 3 hướng: từ biển đổ bộ lên, từ Khánh Hòa ra và từ Tây Nguyên (Đăk Lăk) đánh xuống chiếm thị xã Tuy Hòa, rồi phát triển chiếm toàn bộ Phú Yên. Bước 2: Sau khi hoàn thành đánh chiếm Phú Yên, Pháp tăng cường thêm lực lượng đánh chiếm Quy Nhơn và toàn bộ tỉnh Bình Định. Bước 3: Tập trung toàn bộ lực lượng từ 4 hướng: Quảng Nam đánh vào, Bình Định đánh ra, Kon Tum đánh xuống và từ biển đánh lên. Bốn cánh quân sẽ hợp điểm tại thị xã Quảng Ngãi, hoàn thành mục tiêu đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5. Vị trí Tây Nguyên - Kon Tum trong chiến dịch Đông Xuân năm 1953- 1954 đã được đề cập trong Báo cáo của Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị (27- 11-1953), Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (01-1953) và một số văn kiện quan trọng khác đều đã khẳng định phải giành lấy địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Liên Khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu 5 đề ra phương châm tích cực, mạnh bạo phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là ở phía Bắc thuộc địa bàn Kon Tum. Tháng 12-1953, triển khai kế hoạch tiến lên Tây Nguyên. Đồng chí Nguyễn Chánh - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu làm Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch. Ở hướng Đông Bắc Kon Tum được chọn làm hướng chính, các lực lượng của Trung đoàn 108, Trung đoàn 803 (thiếu tiểu đoàn 59) liên đoàn đặc công, các đơn vị pháo cối, phòng không, các đơn vị công binh, trinh sát, thông tin phối hợp với lực lượng địa phương thực hành tiến công theo hai bước: Bước 1: Trong đêm N tiêu diệt cứ điểm Măng Đen và Măng Buk phá thế phòng thủ của địch ở phía Đông Bắc của tỉnh Kon Tum, sau đó kéo địch từ Kon Tum ra chi viện để tiêu diệt và tiến đánh cứ điểm Kon Braih uy hiếp thị xã Kon Tum.*Bước 2: Sau khi tiêu diệt cụm quân địch ở hướng đường số 5, phát triển tiến công tiêu diệt toàn bộ hệ thống cứ điểm địch từ Đăk Tô đến Đăk Glei và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Kon Tum. Đúng 23 giờ 23 phút ngày 27-01-1954, chiến dịch bắt đầu. Trên hướng chính Bắc Kon Tum, Trung đoàn 108 tấn công cứ điểm Măng Đen - cứ điểm kiên cố nhất và là xương sống cụm cứ điểm của địch ở Bắc Kon Tum, cách thị xã Kon Tum 60km. Sau 8 giờ chiến đấu quyết liệt, sáng ngày 28-01-1954, quân ta đã làm chủ trận địa. Ở hướng khác, cũng trong đêm 27 tháng 01, Tiểu đoàn 97 của Mặt trận Miền Tây phối hợp với Tiểu đoàn 89 (Trung đoàn 108) tiêu diệt cứ điểm Măng Buk. Tiểu đoàn 89 (Trung đoàn 803) tấn công đồn Kon Braih. Khi Trung đoàn 108 tấn công Măng Đen thì Tiểu đoàn 59 còn cách đồn Kon Braih khoảng 5km. Địch ở đồn Kon Braih được báo động, chúng đã đưa lực lượng ra trấn giữ. Đồn Kon Braih được xây dựng trên một quả đồi cao, nằm ở hữu ngạn của dòng sông Đăk Snghé, trên trục lộ đường số 05 đi Kon Plong - Quảng Ngãi, cách thị xã Kon Tum 29 km. Ở phía Nam có địa hình chia cắt hiểm trở nhiều con suối nhỏ ngăn cách rất khó tiếp cận, phía Tây bằng phẳng thoi thoải thấp dần thuận lợi cho việc quan sát, chốt giữ. Con đường số 5 và cầu Kon Braih nối hai bờ Tây và Đông sông Đăk Snghé đều nằm dưới sự kiểm soát của địch. Cổng đồn được mở hướng Bắc nối với đường số 5, khu vực trung tâm là cụm hầm nửa nổi nửa chìm và hệ thống lô cốt. Lô cốt mẹ được xây dựng khá kiên cố với bê tông, cốt thép có đường hầm liên thông với nhau. Từ cụm hầm trung tâm, có các chiến hướng ra các hầm, lô cốt, ụ súng, công sự chiến đấu cá nhân chạy xung quan đồn. Tiếp đến là hệ thống hầm chông, bẫy mìn và cộc sắt thép gai được cài cắm xung quan đồn. Lực lượng của địch chiếm đóng ở trong đồn thường xuyên là một trung đội trấn giữ. Với địa thế về mặt quân sự như vậy, đồn Kon Braih trở nên đắc địa cho việc quan sát, kết hợp với đồn Măng Buk, Măng Đen tạo thành một pháo đài vững chắc để đưa quân đi càn quét, bắn phá các vùng căn cứcủa ta và khống chế toàn bộ khu vực đường 5 và các vùng xung quanh cũng như phòng thủ và tiến công55. Để tiêu diệt được đồn Kon Braih, Tiểu đoàn 59 gấp rút tiếp cận mục tiêu, các mũi trinh sát đi đầu phát hiện được địch đang phục kích, các Đại đội 4 và Đại đội 6 phải tìm đường né địch để nhanh chóng triển khai đội hình. Với quyết tâm đánh chiếm bằng được đồn Kon Braih, các mũi đột phá khẩu của Tiểu đoàn 59 anh dũng ôm bọc phá lao lên đánh phá hàng rào, vượt hào chông đánh vào lô cốt, trước lưới lửa đạn từ các lỗ châu mai bắn ra. Cửa đột phá chính đã mở, nhưng cửa đột phá thứ yếu chưa vào được. Đồng chí Trần Xưng trung đội phó, trung đội đột phá khẩu, thấy đơn vị còn vướng thép gai dù lúc này đồng chí đang bị thương nặng cả hai chân vẫn cố lết tới hàng rào cuối cùng. Lăn mình nằm choàng lên rào thép gai; lấy thân mình làm "thang mê" cho đồng đội xung phong lao vào đồn địch diệt lô cốt án ngữ mở cửa cho đồng đội tiến công đồn. 6 giờ 30 phút, ngày 28-01-1954, lá cờ quyết chiến quyết thắng đã phất cao giữa đồn Kon Braih. Ta đã bắt sống gần 40 tên, trong đó có đại úy chỉ huy Pháp, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng, làm chủ trận địa. Với chiến thắng đồn Kon Braih ta đã giải phóng một vùng rộng lớn ở phía Đông Bắc tỉnh Kon Tum và trên trục đường 5 từ Kon Tum đi Kon Plong xuống Quảng Ngãi, phá vỡ hoàn toàn tuyến phòng ngự trên hướng này và tạo điều kiện quan trọng cho việc tiến đến giải phóng thị xã Kon Tum56. Đặc biệt nhân dân các dân tộc trên địa bàn tại khu vực Đăk Ruồng được hoàn toàn tự do, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với Bác Hồ ngày càng dâng cao. Chiến thắng Măng Đen, Măng Buk và Kon Braih có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần quyết định vào thắng lợi của chiến dịch Bắc Tây Nguyên trong Đông - Xuân năm 1953-1954. Hệ thống phòng thủ của địch ở Kon Plong và toàn bộ vùng Bắc Tây Nguyên sụp đổ hoàn toàn. Cánh cửa tiến vào Bắc Tây Nguyên mở toang; tạo thời cơ thuận lợi để tiến lên giải phóng các huyện Đăk Tô, Đăk Glei và toàn tỉnh Kon Tum.
55 Lý lịch di tích cấp tỉnh Chiến thắng Kon Braih. Hồ sơ lưu tại Bảo tàng – Thư viện tỉnh Kon Tum. 56 Hồ sơ di tích lịch sử Chiến thắng Đồn Kon Braih. Hiện lưu trữ tại Ban Quản lý di tích tỉnh Kon Tum.Cứ điểm Măng Đen đươc giải phòng. Anh̉ Tư liêu. Tuyến phòng thủ Đông Bắc tiểu khu Kon Tum bị phá vỡ, cửa vào Bắc Tây Nguyên đã mở. Tư lệnh Nguyễn Chánh lệnh cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 đưa một bộ phận phát triển nhanh, lên phía Tây uy hiếp, tiêu diệt các cứ điểm dọc theo quốc lộ 14. Đồng thời Trung đoàn 803 áp sát thị xã Plei Ku, phục kích trên đoạn Plei Ku - Kon Tum, tiến công ngay vào thị xã. Trong khi đó chủ lực của Bộ lại bắt đầu mũi tiến công lên Trung Lào và Hạ Lào. Bộ chỉ huy Pháp phải tạm ngừng chiến dịch Át-lăng, đưa binh đoàn cơ động 100, xương sống của chiến dịch lên chống đỡ. Bộ phận tiền tiêu của chúng bị đánh ở ven thị xã Kon Tum. Ngày 07-02-1954 tại thị xã Kon Tum, đồng chí Tư lệnh Nguyễn Chánh đã điện cho Đại tướng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ở chỉ huy sở Mường Phăng (Điện Biên Phủ) thông báo Kon Tum đã hoàn toàn giải phóng57. Đánh giá kết quả và ý nghĩa của chiến thắng Kon Plong và Kon Tum, trong thư gửi cán bộ Liên khu 5, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp đã nhấn mạnh: "Thắng lợi Kon Tum là một thắng lợi to lớn của ta trên chiến trường miền Nam, nó cũng là một trong những thắng lợi to lớn của ta trong mùa Xuân này trên chiến trường toàn quốc. Nó cũng là một đòn nặng đánh vào âm mưu của địch đối với miền Nam"58. 57 Bộ Tư lệnh Quân khu 4- Câu lạc bộ Truyền thống Trung đoàn 96 (1995). Trung đoàn 96 - Trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của Pháp. Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội. tr 77-78. 58 Theo Báo Nhân dân Liên khu V, số 88, từ ngày 16 đến ngày 25/2/1954.
***
Trải qua một thời gian dài tự lực cánh sinh, quyết tâm bảo vệ vùng đất, bảo vệ nương rẫy và đấu tranh đến cùng với kẻ thù xâm lược, Nhân dân các dân tộc trên địa bàn xã Đăk Ruồng nói riêng và nhân dân trên địa bàn tỉnh nói chung đã đồng tâm, hiệp lực cùng với cán bộ, lực lượng vũ trang, bộ đội Khu 5 đã đánh bại các cuộc đánh chiếm, càn quét của địch đặc biệt là giành thắng lợi trong chiến dịch Đông Xuân ở Bắc Tây Nguyên năm 1954. Đây là tiền đề cho quá trình hình thành và phát triển các cơ sở cách mạng cũng như sự ra đời tổ chức cơ sở Đảng cộng sản ở xã Đăk Ruồng sau này.



