Nhân dân Đức Lân - Giàu truyền thống yêu nước
Nhân dân Đức Lân - Giàu truyền thống yêu nước
Nhân dân Đức Lân từ bao đời phải chịu sự cai trị hà khắc của chế độ phong kiến rồi đến nửa phong kiến – thực dân. Với lý lẽ “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”(1) và sự kìm kẹp của bộ máy Lý - Hương(2). Ngoài những quy định của triều đình trung ương, bộ máy cai trị ở địa phương còn tự đặt ra đủ thứ lệ luật để đàn áp, bóc lột nhân dân.
Đến tận xương tủy, nhân dân vô cùng căm hận nhưng lòng yêu nước bao giờ cũng nồng nàn, cháy bỏng; mỗi khi đất nước lâm nguy thì người dân bao giờ cũng đứng về phe chính nghĩa dẹp loạn, cứu nước. Bởi vậy, hằng năm cứ vào dịp xuân kỳ, thu tế nhiều nhà và dòng họ trong xã tổ chức cúng “khao thế lính” là để tưởng nhớ, cầu siêu cho linh hồn tổ tiên, người thân họ vì nghĩa cử mà xả thân. Khi phong trào Tây Sơn khởi phát (năm Tân Mão 1771), trên đường tiến quân ra phía Bắc, danh tướng Trần Quang Diệu có ghé về quê (Mộ Đức) chiêu mộ và tập luyện quân lính; dân làng Tú Sơn và Thạch Trụ hưởng ứng rất mạnh mẽ, nhà nhà đóng góp quân lương; hàng chục trai tráng trong hai làng tình nguyện đầu quân tham gia đánh dẹp chúa Nguyễn đàng trong, chúa Trịnh đàng ngoài, đánh bại quân Xiêm và đại phá quân Thanh, làm rạng danh bờ cõi. Về sau, năm Ất Dậu (1885), khi bị thất thủ kinh đô Huế, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, nhân dân xã Đức Lân tiếp tục hưởng ứng mạnh mẽ Hịch chiếu. Sau khi Lê Trung Đình cùng Nguyễn Tự Tân thất thủ và tử nạn tại thành Quảng Ngãi, ở địa phương bị quân lính Nam triều do Nguyễn Thân chỉ huy bố ráp gắt gao, nhưng trai tráng trong hai làng Tú Sơn, Thạch Trụ vẫn xung quân dưới ngọn cờ Đại Nghĩa “Tiễu tặc, trừ gian, bình quốc loạn” (giết giặc, trừ gian, làm yên đất nước) do cụ Nguyễn Bá Loan lãnh đạo ở vùng núi Thiết Trường (thuộc thị trấn Mộ Đức và xã Đức Tân ngày nay), sau đó chuyển lên vùng Thượng du tiếp tục cuộc kháng chiến kéo dài nhiều năm. Lực lượng Cần Vương Quảng Ngãi liên kết với lực lượng Cần Vương Quảng Nam, Bình Định và Phú Yên… đánh nhau với quân Nam triều và quân Pháp khắp miền Trung. Nhiều lần nghĩa quân đã đánh chiếm một số nơi quan trọng như huyện lỵ Mộ Đức ở thôn Thạch Trụ và chiến lũy Sơn phòng Nghĩa Định (Vạn Lý, Phổ Phong ngày nay)… Tiêu biểu cho phong trào ở Đức Lân lúc bấy giờ có bà Trịnh Thị Tuyết Anh (vợ của Nguyễn Thân), nhưng vì không đồng nhất quan điểm “bán nước cầu vinh” của y nên đã rời khỏi dinh, huy động gia nhân gia nhập nghĩa quân.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp áp đặt xong nền cai trị trên toàn cõi Việt Nam, bắt đầu cuộc bóc lột vô cùng tàn khốc để làm giàu cho “nước mẹ” (Pháp) và mở rộng thuộc địa. Khiến cho tầng lớp dân nghèo vốn đã cơ hàn nay lại bần cùng, bế cực hơn, ai nấy đều căm uất cảnh “dân làm, Tây cướp, vua ăn”. Vì vậy, khi tiếp thu chủ trương của phong trào Duy Tân do Lê Đình Cẩn, Nguyễn Bá Loan và nhiều sĩ phu yêu nước có học vấn, tài cao lãnh đạo, nhân dân làng Thạch Trụ và Tú Sơn hăng hái cắt tóc ngắn gia nhập các tổ chức Nông hội, Thương hội, Học hội; bắt đầu các hoạt động bài trừ hủ tục lạc hậu và mê tín dị đoan với mục tiêu “Hưng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Hưởng ứng “ngày cự sưu, khất thuế” (24 tháng 3 năm 1908), nhân dân làng Thạch Trụ nổi dậy đánh bọn Tây đoan chống thuế thuốc lá, đòi bãi bỏ thuế rượu, khiến bọn lính Âu - Phi, Kho đỏ, Kho xanh đóng ở đồn Thạch Trụ không kịp trở tay. Đức Lân là quê hương của cụ Nguyễn Thiệu (Tú Thiệu), một trong những người lập “Công ải xã”, tổ chức có xu hướng cộng sản đầu tiên ở huyện Mộ Đức. Cụ cũng là một trong những người sáng lập An Nam Cộng sản Đảng, và ở gần làng Tân Hội (nay thuộc xã Phổ Phong) là quê hương của Nguyễn Nghiêm – người Bí thư đầu tiên của Tỉnh ủy Quảng Ngãi, nơi mở nhiều lớp huấn luyện, là cơ sở ấn loát, xuất bản các báo “Dân cày”, “Thanh niên” để phổ biến chủ trương và kêu gọi hoạt động cách mạng từ đầu năm 1927. Giữa năm 1927, tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội huyện Mộ Đức ra đời, nhân dân Đức Lân hưởng ứng tích cực. Tháng 9 năm 1927, nhân dân hai làng Thạch Trụ và Tú Sơn dưới sự lãnh đạo của tổ chức Hội đã đứng lên đấu tranh chống sự hà hiếp của bọn cường hào, quan lại; chống bao chiếm rừng và đất; chống tệ xoi thịt và gian lận trong quân cấp công điền của bọn Hào lý rất quyết liệt.
Nhưng sau đó phong trào bị đàn áp, khủng bố khiến một số lãnh đạo bị bắt, một số dao động, phân vân không biết theo tổ chức nào vì lúc đó trong nước có nhiều tổ chức cộng sản khác nhau. Sự thống nhất của tổ chức cộng sản lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2 năm 1930) là yếu tố căn bản thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của lớp lớp con em Đức Lân trong các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân – đế quốc, cũng như cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa sau này. Có thể khẳng định: Đức Lân là nơi hội tụ thiên thời – địa lợi – nhân hòa nên con người Đức Lân, dù ở thời đại nào cũng hiếu học, chăm làm và trọng nghĩa khí; sẵn sàng xả thân vì nghĩa, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ quê hương. Nhưng phẩm chất đó chỉ được phát huy cao độ và thể hiện rõ nét nhất từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo dân tộc làm cách mạng.



