Cựu Thanh niên xung phong

Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn – Mười năm nếm mật nằm gai, giành lại giang sơn từ tay giặc Minh

Từ núi rừng Lam Sơn (Thanh Hóa), hào trưởng Lê Lợi cùng những hào kiệt đồng chí hướng đã phất cờ khởi nghĩa năm 1418, trải qua mười năm gian khổ đánh đuổi quân Minh xâm lược, giành lại độc lập cho Đại Việt và mở ra bản tuyên ngôn độc lập bất hủ "Bình Ngô đại cáo".

Hải Phòng14/08/2026Xã Sơn Thủy (Đoàn xã Sơn Thủy)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lê Lợi sinh năm 1385 tại vùng đất Lam Sơn, huyện Thường Xuân (nay là Thọ Xuân), trấn Thanh Hóa, xuất thân từ một gia tộc hào trưởng có truyền thống yêu nước. Cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, đất nước Đại Việt rơi vào cảnh loạn lạc: nhà Trần suy vong, nhà Hồ thay thế nhưng không đủ sức chống lại cuộc xâm lược của nhà Minh. Năm 1407, quân Minh đánh bại nhà Hồ, đặt ách đô hộ hà khắc lên toàn cõi Đại Việt, thi hành chính sách bóc lột tàn bạo, đồng hóa văn hóa, khiến trăm họ lầm than. Nhiều cuộc khởi nghĩa của các thế lực hậu duệ nhà Trần nổi lên chống lại quân Minh nhưng đều bị đàn áp tàn khốc, các vị vua và tướng lĩnh phần lớn tử tiết hoặc bị bắt giải về phương Bắc. Trong hoàn cảnh đất nước tưởng chừng như tăm tối ấy, Lê Lợi – một hào trưởng có uy tín lớn ở vùng Lam Sơn – đã âm thầm nuôi chí lớn, chiêu mộ hào kiệt, tích trữ lương thảo, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa quy mô.

Năm 1416, tại núi rừng Lũng Nhai, Lê Lợi cùng mười tám người bạn tâm huyết – trong đó có Nguyễn Trãi, người sau này trở thành quân sư trọng yếu – đã làm lễ thề nguyền, cùng nhau kết nghĩa sống chết có nhau, quyết chí đánh đuổi giặc Minh. Đến mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, vào ngày Canh Thân tháng Giêng, Lê Lợi chính thức khởi binh tại Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương, cùng khoảng năm mươi tướng văn tướng võ – trong đó có mười chín người từng dự hội thề Lũng Nhai năm trước – truyền hịch kêu gọi nhân dân khắp nơi đồng lòng đứng lên chống quân xâm lược.

Những năm đầu của cuộc khởi nghĩa là giai đoạn vô cùng gian khổ. Lực lượng nghĩa quân còn non trẻ, chỉ vài nghìn người, lương thực thiếu thốn trầm trọng, lại thường xuyên bị quân Minh với lực lượng đông đảo, trang bị tốt hơn truy đuổi ráo riết. Nghĩa quân nhiều lần phải rút sâu vào rừng núi hiểm trở, có lúc lâm vào cảnh phải ăn rau rừng, củ mài cầm hơi, nếm mật nằm gai để bảo toàn lực lượng và chờ thời cơ. Chính trong hoàn cảnh ấy, tinh thần đoàn kết và ý chí sắt đá của Lê Lợi cùng các tướng sĩ càng thêm tôi luyện. Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi lại lời nhận xét: Lê Lợi là người mưu trí hơn người, lấy nhân nghĩa làm đầu, chiêu hiền đãi sĩ, một lòng muốn cứu dân ra khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng.

Sau giai đoạn cầm cự đầy thử thách, nghĩa quân Lam Sơn dần lớn mạnh. Năm 1424, theo kế sách của Nguyễn Chích, Lê Lợi quyết định chuyển hướng chiến lược, đưa quân vào giải phóng Nghệ An, tạo bàn đạp vững chắc. Đến cuối năm 1425, nghĩa quân đã làm chủ toàn bộ dải đất từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa. Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân làm ba cánh tiến ra Bắc, liên tiếp đánh tan các đạo viện binh của giặc. Một trong những trận đánh mang tính bước ngoặt là trận Tốt Động – Chúc Động cuối năm 1426: nghĩa quân đã khéo léo lợi dụng địa hình đồng chiêm trũng lầy lội, nhử đại quân Minh do Vương Thông chỉ huy lọt vào trận địa mai phục giữa cơn mưa lớn, khiến ngựa xe của giặc sa lầy không thể cơ động. Nghĩa quân từ nhiều hướng đồng loạt xông ra, tiêu diệt và bắt sống hàng vạn quân địch, Vương Thông bị thương nặng phải cố thủ trong thành Đông Quan.

Đỉnh cao thắng lợi của cuộc khởi nghĩa là chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang cuối năm 1427, khi nhà Minh cử đại quân do Liễu Thăng chỉ huy sang cứu viện. Nghĩa quân Lam Sơn tổ chức phục kích tại ải Chi Lăng hiểm trở, chém chết Liễu Thăng ngay tại trận, sau đó truy kích tiêu diệt gần như toàn bộ đạo viện binh tại Xương Giang. Mất chỗ dựa, tướng giặc Vương Thông ở thành Đông Quan buộc phải xin giảng hòa. Tại hội thề Đông Quan, hai bên thỏa thuận quân Minh được rút về nước an toàn, đổi lại phải chấm dứt hoàn toàn việc xâm lược Đại Việt. Nhà sử học Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược sau này đã viết về thời khắc ấy như một sự trở lại của nền tự chủ ngàn đời của nước Nam.

Sau chiến thắng, Lê Lợi sai văn thần Nguyễn Trãi thay mặt mình soạn thảo "Bình Ngô đại cáo" để tuyên cáo cho toàn thiên hạ biết về việc bình định giặc Ngô, khôi phục giang sơn. Áng văn mở đầu bằng tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc, khẳng định việc nhân nghĩa cốt để yên dân, còn quân điếu phạt là để trừ bạo trước tiên, được các nhà nghiên cứu đánh giá là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, sau bài thơ Nam quốc sơn hà thời Lý. Năm 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Lê Thái Tổ, lập ra triều đại nhà Hậu Lê – một trong những triều đại hùng mạnh và thịnh trị bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, kéo dài gần bốn trăm năm, với những di sản còn lưu truyền đến ngày nay như bộ luật Hồng Đức hay bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư.

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, kéo dài suốt mười năm gian khổ, là một trong những trang sử oanh liệt và cảm động nhất của dân tộc Việt Nam – nơi ý chí quật cường của một dân tộc nhỏ bé đã chiến thắng một đế chế phong kiến hùng mạnh, khẳng định chân lý bất diệt về quyền tự chủ và độc lập của một quốc gia có văn hiến lâu đời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn – Mười năm nếm mật nằm gai, giành lại giang sơn từ tay giặc Minh | Câu chuyện thời hoa lửa