Nhật ký thời hoa lửa – Người lính Nguyễn Đức Đề
Thực hiện Kế hoạch số: 287-KH/ĐTN-CTĐ&TTN ngày 28 tháng 8 năm 2025 của tỉnh Đoàn Phú Thọ về việc Tuổi trẻ Đất Tổ tham gia lưu giữ và tuyên truyền các câu chuyện lịch sử với chủ đề “Câu chuyện thời hoa lửa". Trong những ngày mùa thu cách mạng chúng tôi đã đến thăm gia đình Ông Nguyễn Đức Đề trú tại xóm Đội 2, xã Lạc Lương, tỉnh Phú thọ một người lính tham gia chiến trường Miền Nam. Biết chúng tôi đến tìm hiểu, ông Đề nở nụ cười hiền hậu, đôi mắt ánh lên niềm vui giản dị. Đón chén nước lá rừng ông rót mời, tôi đưa mắt nhìn quanh gian phòng khách: trên tường treo đầy giấy khen, bằng khen, huân chương kháng chiến mang tên ông.
Tháng 2 năm 1972 – Ngày đầu chạm đất Thất Sơn
Lần đầu nhìn thấy núi Cấm, tôi không nghĩ phía sau vẻ yên bình ấy lại là cả một vùng chiến lược đầy hiểm trở. Bụi đường đỏ bám kín vai áo. Tiểu đội hành quân xuyên rừng trúc, leo từng đoạn dốc dài đến cái lán nhỏ do đơn vị trinh sát dựng tạm.
Đêm đầu ở núi Cấm lạnh đến gai người. Gió thổi qua những tán cây kêu xào xạc như tiếng gọi mơ hồ của núi rừng. Chỉ huy nói:
“Ở đây đẹp nhưng giữ từng tấc đất không dễ.”
Tôi siết chặt khẩu súng, cảm thấy mình bước vào một cuộc đời mới.
Tháng 4 năm 1972 – Trấn giữ đường liên lạc
Cả trung đội được giao nhiệm vụ đảm bảo tuyến liên lạc từ lưng chừng núi xuống đồng bằng. Địch thường xuyên cho máy bay trinh sát lượn vòng. Ban ngày chúng tôi ẩn trong đá tai mèo, ban đêm men theo lối mòn để chuyển thư, chuyển hàng.
Có hôm gặp mưa rừng ập xuống, áo quần ướt sũng, nhưng khẩu súng vẫn phải khô ráo. Anh em đốt lửa hong áo, rồi lại tắt ngay vì sợ lộ vị trí.
Tôi nhớ nhà, nhớ ruộng đồng quê Nghệ Tĩnh, nhưng biết nhiệm vụ của mình quan trọng hơn tất cả.
Tháng 10 năm 1972 – Đụng độ ở khe Đầu Gió
Buổi sáng trời trong, tưởng yên bình. Không ngờ đến trưa địch bất ngờ phục kích tại khe Đầu Gió.
Tiếng súng nổ chói tai. Đạn cày nát mặt đất. Tôi cùng anh Lương bò lên mỏm đá phía tây, dùng B40 chặn hướng tiến của chúng.
Sau gần một giờ, quân ta phản công, đẩy chúng lùi xuống chân núi.
Hôm ấy ta mất ba đồng chí. Anh em khiêng nhau trên cáng tre, bước chân nặng trĩu. Núi Cấm phủ sương, như cúi đầu tiễn họ.
Tháng 3 năm 1973 – Dân công hỏa tuyến
Vùng Thất Sơn nghĩa tình lắm. Bà con Khmer, Kinh, Chăm thay nhau mang cơm vắt, cá khô, cả những bó thuốc lá rừng lên điểm chốt.
Tôi nhớ mãi hình ảnh một cụ già người Khmer, chống gậy vượt dốc Mang Rổ để đưa túi gạo nhỏ:
“Bộ đội ráng giữ núi cho dân nghe con.”
Nghe mà sống mũi cay xè, bao mệt mỏi như tan biến.
Tháng 6 năm 1973 – Đêm nằm nghe tiếng gió
Đêm núi Cấm nhiều gió. Gió từ hai thung lũng thổi ngược nhau tạo tiếng hú dài. Có lúc tiếng vọng nghe như tiếng người.
Tôi và anh em ngồi tựa lưng vào đá, lau súng, ngắm trăng.
Một đồng chí hỏi:
“Không biết bao giờ mới về được quê cha đất tổ hả Đề?”
Tôi chỉ cười:
“Hết giặc là về. Có khi lại về cùng một chiếc xe bốc thẳng vào vụ gặt.”
Chúng tôi chưa ai biết tương lai ra sao nhưng niềm tin thì không bao giờ tắt.
Tháng 12 năm 1973 – Cảm xúc trước trận đánh lớn
Tin tình báo báo về: địch tăng cường quân ở hướng bắc núi Cấm. Đơn vị nhận lệnh sẵn sàng chiến đấu.
Anh em ngồi viết vội thư về nhà. Tôi cũng viết một lá thư gửi mẹ, dặn mẹ giữ sức khỏe và giữ gìn nếp nhà. Lá thư chưa gửi thì đã phải khoác ba lô lên đường.
Đầu 1974 – Trận giữ điểm cao 508
Đây là trận ác liệt nhất tôi từng chứng kiến. Địch bắn pháo cấp tập suốt buổi sáng, đất đá văng như mưa.
Tiểu đội tôi giữ mặt phía đông, phải bám từng khe đá. Đổi lại, ta chặn đứng ba đợt tấn công.
Cuối ngày, trời đỏ rực như máu. Chúng tôi mệt rã rời, vai ai cũng sướt mẻ bởi mảnh đá, nhưng điểm cao vẫn giữ được.
Tháng 4 năm 1975 – Đón bình minh chiến thắng
Tin chiến thắng từ khắp nơi dồn về. Đơn vị kéo quân xuống đồng bằng nối lực lượng tổng tiến công.
Trên đường hành quân, nhìn lại núi Cấm lần cuối, tôi bỗng nghẹn lại.
Nơi ấy giữ bao hồi ức tuổi hai mươi của tôi – nơi đồng đội ngã xuống, nơi chúng tôi trưởng thành, nơi từng đêm nghe gió thổi mà lòng vẫn quyết không lùi bước.
Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, tôi khóc như một đứa trẻ. Không phải vì đau thương nữa, mà vì cuối cùng đã có thể viết lên trang nhật ký dòng chữ:
“Hoàn thành nhiệm vụ. Tổ quốc đã gọi – và chúng tôi đã trả lời.”


