Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NHỚ VỀ NHỮNG NGÀY ĐI MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

Sinh năm: 1937 Quê quán: Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình Thường trú: 1006 đường Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội Điện thoại: 04.3762157 Từ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 6 năm 1965 Nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh tram 14 Thiếu tá Trưởng phòng Kế hoạch. Cục TMCB 559 Nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào tháng 8 năm 1965, tôi đang làm việc tại trường Đại học Giao thông vận tải thì nhận được quyết định vào Công trường 20.

Đoàn công tác có 18 người gồm các kỹ sư, trung cấp, y sĩ, thống kê. Lúc bấy giờ địch đã tập trung đánh phá đường, cầu từ Thanh Hoá trở vào. Đoàn hành quân bằng xe đạp, đêm đi ngày nghỉ dọc theo đường 1 vào tới ngã ba Hoàn Lão thuộc Quảng Bình, qua các cầu lớn đều phải đi đường vòng, vượt sông bằng thuyền ở phía thượng lưu. Đoàn có hai cô y sĩ là Băng Trâm và Băng Hồng cũng đi theo đoàn bình thường như các bạn nam, không cần sự trợ giúp gì đặc biệt, qua sông qua đò cũng tự vác xe đạp và ba lô lên xuống, cùng mò mẫm ban đêm.


Đến đoạn cầu Vằng cầu Hổ, chúng tôi gặp máy bay thả pháo sáng, sau đó ném bom nhưng không trúng đường. Đi qua cầu lại phải vác xe qua cầu khỉ, còn khét mùi khói bom. Đây là trận bom và pháo đầu tiên trong đời, tôi không thấy ai nói gì, cứ lầm lũi đạp xe, các bạn nữ cũng không tỏ ra hốt hoảng. Tuổi trẻ đi đánh Mỹ có nhiều bất ngờ.


Vào đến Phong Nha leo lên hang Cửa Rừng, các thành viên trong đoàn hành quân được phân về các phòng ban của Công trường. Tôi được đồng chí Phan Trầm giao phụ trách một tổ, khảo sát từ Km 0 đến Km 16.

- Có máy đo đạc không ạ? Tôi hỏi anh Phan Trầm.

- Chỉ huy trưởng Công trường cười trả lời: “Có một địa bàn và một tấm bản đồ 1/100.000, làm như thế nào để có một tuyến đường vận tải quân sự na ná như cấp 5 miền núi là do các cậu tự nghĩ ra”.

Tổ chúng tôi có 8 người, tôi là Tổ trưởng, anh Huyền Tổ phó và sáu người nữa làm tất cả mọi việc của một đội khảo sát, máy móc tự sáng tạo bằng các mảnh ván bìa, quả đọi bằng đầu đạn, chúng tôi tiến vào rừng cắm tuyến, vẽ trắc dọc, trắc ngang, bình đồ, đi đường đỏ, tính khối lượng v.v...


Nếm trải đầu tiên là rắn và vắt, thung lũng Đồng Tiền cây cối rậm rạp và ẩm ướt. Nơi này sao mà nhiều rắn xanh thế, dân địa phương cho biết loại rắn này độc lắm, cắn người không thể cứu được, cứ dăm ba bước lại gặp một con, những ngày nắng ấm, chúng bò ra sưởi nắng ở những chỗ trống rất nhiều, nhưng loài rắn này lại rất chậm, chân bước có thể tránh được - tạo hoá cũng có những "điều chỉnh” tự nhiên hợp lẽ như vậy.. Còn vắt thì nhiều vô kể, hễ có hơi người qua là chúng ngóc đầu lên tua tủa như chồng dầy dặc, trên cây thì có vắt xanh bám vào cổ lúc nào không biết. Qua thung lũng này căng thăng lắm, phải đi nhanh chạy vắt, đi không khéo dẫm chân phải rắn xanh thì chắc chết. Thế mà cả thời gian khổng có ai bị rắn cắn, còn vắt thì hôm nào cũng bị vài con, sợ nhất là vắt xanh bám vào cổ, vào đầu, chui vào nách...


Lại nói về quần áo, giày vải, chúng tôi đi vào chiến trường không được chuẩn bị như các đoàn khác hoặc như bộ đội đi B, có lệnh là lên đường ngay, mỗi người chỉ có hai bộ quần áo, một bộ mặc, một bộ bô ba lô mang từ nhà đi, chỉ được phát một bật lửa và một bi đông, chân đi dép lốp. Chúng tôi cũng không phải là khảo sát chuyên nghiệp nên không được phát bảo hộ lao động, sau 10 ngày đi khảo sát có anh chỉ còn một quần dài và một quần “lửng tự tạo” do quần dài rách cụt mất ống. Thế rồi cũng đã khảo sát thiết kế xong 16 ki lô mét đường và chuẩn bị sang giai đoạn thi công. Từ Ba Thang sang phía tây do đội đồng chí Phi Đình Tuấn khảo sát thiết kế.


Chỉ huy trưởng Phan Trầm cho gọi tôi lên lán chỉ huy:

- Cậu nghiên cứu phương án kỹ thuật mở đường qua sườn núi đá, với trang bị xẻng cuốc, xà beng, choòng, búa và thuốc nổ. Yêu cầu tốc độ mở đường mỗi tháng 12 - 15 ki lô mét.

Nhiệm vụ này đối với tôi là rất xa lạ, chưa được học, chưa được làm bao giờ. Nhưng may mắn được Đoàn 559 cử đại uý Thọ xuống công trường hướng dẫn chúng tôi tính toán lượng nổ và kỹ thuật phá nổ. Sau khi tính toán xong, chúng tôi giao cho Đại đội Thanh niên xung phong 452 Nam - Hà thực hiện thử một quả nổ 1,5 tấn ở đầu dốc Đồng Tiền. Đạt kết quả, mọi người rất phấn khởi, ví von với quả bộc phá trên đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ.


Hiệu quả đất đá phá nổ được gần như tính toán, nhưng cây cối về phía vực dạt hết, để lại một khoảng trống, như vậy sẽ lộ mục tiêu, đoán chắc chỉ vài ngày sau địch sẽ phát hiện chính xác ta mở đường ở vị trí nào, và sẽ huy động máy bay đến đánh phá. Nghiêm Đình Huyền đứng cạnh tôi hỏi, bây giờ ta làm kiểu gì?


Tôi chưa suy nghĩ được gì, nhưng như có phản xạ, tôi nói luôn:

- “Nổ to không được thì ta cho nổ nhỏ!”

- Huyền nói: "Ta làm thử cái đã". Thế rồi huy động C452 lấy dốc Dồng Tiền làm nơi thử nghiệm, cả Đại đội dùng xà beng, cuốc đào đất ở các hốc đá, tính toán lượng nổ từ 3 đến 5 ki lô gam gói chặt nhét vào khe đá, phía ngoài đắp đất cho nổ một đoạn dài 15 mét. Sau loạt nổ đã hình thành một vệt đường có bề rộng, có ta luy. Cây cối loại đường kính từ 20 cen ti mét trở lên còn đứng nguyên hai bên đường, chỉ rụng ít lá, mọi người nhảy lên vui mừng “thành công rồi". Từ đó phương pháp mở đường bằng bộc phá liên tục ra đời. Anh Phan Trầm cử luôn tôi làm Phó chỉ huy mở đường đoạn đầu tiên.


Công trường mở đường đến đoạn đá hoa cương phong hoá thành những tảng lớn, có khối to 4 đến 5 mét khối. Chúng tôi đào lỗ mìn vào gần khối đá, cho nổ bọc phá với lượng nổ 5 -10 ki lô gam, nhưng không đẩy được xuống vực. Khi nổ nhìn rõ hòn đá bị nâng lên rồi lại rơi đúng vị trí cũ, dùng xà beng, cây gỗ làm đòn bẩy cũng không đẩy nổi. Sau khi nghiên cứu tôi nói với anh em, loại đá này tuy rắn nhưng lại dòn, ta thử chơi kiểu "trên đe dưới búa”. Anh em gói lượng nổ 5 ki lô gam đặt lên trên hòn đá rồi đắp đất lên cho nổ, tảng đá vỡ thành năm, sáu phần, dùng xà beng dễ dàng bẩy xuống ven đường. Lại một thành công nữa!


Ngày khởi công đồng loạt đã đến. Đúng 17 giờ 30 tết Bính Ngọ đồng chí Phó Tư lệnh Nguyễn Tường Lân ra lệnh nổ loạt bộc phá đầu tiên để đón Xuân và mở màn chiến dịch "Chọc thủng Trường Sơn mở đường thắng lợi”.


Phương pháp kỹ thuật mở đường bằng bộc phá liên tục được áp dụng cho toàn công trường, sau 77 ngày thi công, công trường hoàn thành nhiệm vụ "chọc thủng Trường Sơn". Đây cũng là một kỷ lục của thời bấy giờ với tốc độ mở đường đá từ 15 - 20 ki lô mét/tháng.


Trong quá trình mở đường, tôi được điều sang làm Chủ nhiệm Công binh Trung đoàn 4 bộ binh đang hành quân vào chiến trường dừng lại để mở đường. Nhiệm vụ chủ yếu của tôi là huấn luyện và hướng dẫn bộ đội mở đường.


Cuộc sống quân ngũ bắt đầu! Điều thích thú của tôi là được ăn cơm nấu chín, không bị khê sống, làm việc hội họp đúng giờ, chỉ thị phát ra là có người thực hiện nghiêm chỉnh, được phát một bộ quần áo bộ đội và một đôi giày vải của chiến sĩ. Anh em chúng tôi phấn khởi, thoát khỏi cảnh rách rưới, leo núi dễ dàng, không khó như đi dép lốp.


Bộ quần áo ấy bây giờ cho không ai mặc, nó giầy và cứng như bạt xe, anh em hậu cần nói là của Triều Tiên viện trợ, khi giặt thì lại cứng như mo nang, nhưng lúc bấy giờ lại quý, được cho là ăn chắc mặc bền.


Đường 20 hoàn thành, Công trường 20 giải thể, tôi được chuyển sang quân đội phong quân hàm thượng sĩ, cuộc sống quân ngũ chính thức bắt đầu!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn