NHỮNG BÔNG HOA BẤT TỬ - 10 CÔ GÁI ĐỒNG LỘC
NHỮNG BÔNG HOA BẤT TỬ - 10 CÔ GÁI ĐỒNG LỘC
NHỮNG BÔNG HOA BẤT TỬ - 10 CÔ GÁI ĐỒNG LỘC
+ Tiếng hát át tiếng bom ở “tọa độ chết”
Mùa hè năm 1968, dải đất miền Trung bỏng rát dưới cái nắng như đổ lửa và những trận mưa bom dữ dội từ máy bay Mỹ. Tại mảnh đất Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) – yết hầu giao thông độc đạo nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam – đất đá bị xới tung, không một ngọn cỏ nào có thể mọc nổi. Nơi đây được ví như một “tọa độ chết”, cứ 1 mét vuông đất lại phải gánh chịu tới 3 quả bom nguyên tử thu nhỏ.
Thế nhưng, ngay tại ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết ấy, một tiểu đội thanh niên xung phong gồm 10 cô gái trẻ tuổi từ 17 đến 24 vẫn ngày đêm bám trụ. Họ thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, do chị Võ Thị Tần làm Tiểu đội trưởng.
Mười cô gái là mười tính cách, đến từ những làng quê khác nhau của dải đất Lam Hồng. Có chị đã có người yêu, có chị vừa nhận được thư nhà, và có cả những người em út như Võ Thị Hà mới bước sang tuổi 17, nét mặt vẫn còn vương chút ngây thơ của trẻ con. Nhiệm vụ của các chị là đứng trên đồi cao quan sát máy bay địch, đếm bom nổ, cắm tiêu đánh dấu bom nổ chậm và lập tức lao ra san lấp hố bom ngay sau khi giặc vừa đi khỏi để thông đường cho xe qua.
Mỗi ngày, các chị phải hứng chịu hàng chục trận bom, tai lúc nào cũng ù đặc vì tiếng nổ, mặt mũi lấm lem bùn đất và khói súng. Ấy vậy mà, gian khổ không làm tắt đi nụ cười của tuổi trẻ. Những lúc ngớt tiếng bom, thung lũng Đồng Lộc lại rộn rã tiếng trêu đùa tinh nghịch. Các chị chia nhau từng ngụm nước bẩn trong hố bom, chải tóc cho nhau, rồi cất cao tiếng hò ví dặm ngọt ngào, lấy tiếng hát để át tiếng bom thù.
+ Chiều định mệnh ngày 24 tháng 7
Ngày 24 tháng 7 năm 1968, mặt trời chói chang đổ cái nóng hầm hập xuống thung lũng. Từ sáng đến chiều, máy bay Mỹ đã dội bom tới 14 lần, cày nát con đường chiến lược.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút, một trận bom nữa vừa dứt, lệnh từ chỉ huy phát ra: Một đoàn xe quân sự chở đầy nhu yếu phẩm và đạn dược đang chờ ở bìa rừng, phải thông đường bằng mọi giá trước khi trời tối. Không một chút do dự, Tiểu đội 4 gồm 10 cô gái vác cuốc, xẻng lao ngay ra trận địa. Họ làm việc chạy đua với thời gian, tay thoăn thoắt hất từng gộc đất, san phẳng những hố bom còn khét lẹt mùi thuốc súng.
Đột nhiên, tiếng gầm rú xé toạc bầu trời. Top máy bay phản lực Mỹ bất ngờ quay trở lại, lao thúc thủ xuống cao điểm.
“Có máy bay! Các em nằm xuống!” – Tiếng chị Võ Thị Tần hét lớn qua máy bộ đàm.
Tất cả 10 cô gái lập tức buông xẻng, nhanh chóng lao vào một căn hầm chữ A được đào bên sườn đồi. Giây tiếp theo, mặt đất rung chuyển dữ dội. Một loạt bom xẻ dọc bầu trời, trút xuống trận địa. Một quả bom định mệnh đã nổ ngay sát cửa hầm, hất tung khối lượng đất đá khổng lồ, vùi lấp toàn bộ căn hầm của các chị dưới tầng tầng lớp lớp cát bụi mù mịt.
Không gian bỗng im bặt một cách đáng sợ. Khói bom tan dần, nhưng tiếng hát hằng ngày đã không còn nữa.
+ Lời gọi tìm trong nước mắt và Sự bất tử
Từ các trận địa lân cận, các đồng đội du kích và các anh lái xe điên cuồng lao ra. Họ không kịp dùng xẻng vì sợ chạm vào thân thể các chị, tất cả dùng móng tay rớm máu để bới từng thớ đất, gào khóc gọi tên từng người: “Tần ơi! Nhỏ ơi! Xuân ơi!...”
Nhưng đáp lại họ chỉ là tiếng gió hú qua khe núi và tiếng đất đá sạt lở.
Máu của những người đồng đội hòa lẫn vào đất mẹ. Chín chiến sĩ lần lượt được tìm thấy. Các chị nằm đó, quần áo rách bươm, thân thể vẫn còn vẹn nguyên và ấm nóng, nhưng hơi thở đã tắt. Duy chỉ có chị Hồ Thị Cúc là vẫn bặt vô âm tín. Đêm xuống, trời đổ mưa, đồng đội vừa khóc vừa đào bới suốt đêm nhưng không thấy chị đâu.
Sang đến ngày thứ ba, nỗi tuyệt vọng và đau đớn bao trùm cả ngã ba. Người đồng đội Yến Thanh ngồi bên hố bom, gạt nước mắt viết vội những dòng thơ nghẹn ngào, rồi đứng giữa núi rừng gào khóc gọi:
“Cúc ơi! Em ở đâu không về họp đội?
Chín bạn đã quây quần thành một khối
Lâm, Thịnh, Khanh, bới đất tìm em
Gào cuốc nẩy tay, bầm điên môi gọi...
...Về với bọn anh húc vài miếng trâm bầu
Ăn quả ổi xanh cơm mìu đỡ đói
Cúc ơi! Bọn anh không khóc nữa đâu
Chỉ run run tay chọn đất đắp cho em...”
Như có một phép màu thấu cảm, chiều ngày thứ ba, chiếc cuốc của đồng đội chạm vào vành mũ cối. Chị Cúc được tìm thấy ở hầm sâu trong tư thế ngồi, chiếc xẻng vẫn ôm chặt trong lồng ngực, đầu đội mũ cối bị móp méo. Cả tiểu đội 10 người đã chính thức đoàn tụ, không một ai sống sót.
Đêm hôm ấy, ngã ba Đồng Lộc không một ánh đèn nhưng rực lửa căm thù. Đoàn xe quân sự nườm nượp lăn bánh qua con đường vừa được san phẳng bằng máu của 10 cô gái. Các anh tài xế gạt nước mắt, nhấn ga tiến thẳng về phía Nam, mang theo lời thề trả thù cho những đóa hoa vừa ngã xuốn
Mười cô gái thanh niên xung phong Đồng Lộc đã nằm lại nơi lòng đất mẹ khi tuổi đời đẹp nhất. Ngày nay, họ vẫn nằm cạnh nhau dưới những hàng thông xanh ngắt tại Nghĩa trang Đồng Lộc. Trên mộ các chị, dòng người qua lại luôn đặt những bó hoa cúc trắng tinh khôi, những chiếc gương và chiếc lược tròn nhỏ nhắn – những món đồ giản dị của người con gái mà thời hoa lửa ấy, các chị chưa kịp dùng một lần trước lúc đi xa.



