NHỮNG BÓNG HOA LỬA TRONG ĐÊM CHỮ VIẾT BẰNG ĐẤT ĐỎ
Câu chuyện hồi tưởng về những đêm thanh niên xung phong dùng đất đỏ bazan viết thư, viết khẩu hiệu, viết tên đồng đội đã hy sinh lên vách hầm, lên đá núi để lưu giữ ký ức và tiếp thêm sức mạnh giữa bom đạn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1968-1970), dựa trên sự kiện lịch sử thực tế về đời sống tinh thần sáng tạo, kiên cường của lực lượng thanh niên xung phong địa phương tại vùng Mường Lay - Lai Châu, khi thiếu giấy bút vẫn tìm cách ghi dấu bằng đất, bằng đá giữa lòng Trường Sơn lửa đạn, với
Tôi vẫn hay trở về Bản Chi Luông mỗi khi trời mưa bụi, cầm nắm đất đỏ bazan trong tay mà lòng chợt dâng trào ký ức về những đêm viết chữ bằng đất, nơi tuổi trẻ chúng tôi đã dùng chính đất mẹ để giữ gìn ký ức, giữ lửa hy vọng giữa khói lửa Tây Bắc. Sinh năm 1952, ở vùng đất Mường Pồn - Điện Biên ngày ấy, tôi lớn lên giữa những con đường bazan đỏ và nương rẫy, nghe tiếng gió rừng và tiếng gọi Tổ quốc từ những buổi họp bản. Năm 1968, khi giặc Mỹ đánh phá ác liệt, tôi tình nguyện gia nhập Đại đội PC231 CKNC Thanh niên xung phong. Lúc đó tôi 16 tuổi, tay còn non nhưng lòng đã nặng trĩu trách nhiệm với quê hương và miền Nam ruột thịt.
Giấy bút hiếm hoi giữa chiến trường, chúng tôi dùng đất đỏ bazan nhào với nước suối thành mực, lấy cành cây nhọn làm bút, viết lên vách hầm, lên phiến đá phẳng, lên tấm ván gỗ vụn. Đó là những bức thư gửi gia đình, những khẩu hiệu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, những dòng tên đồng đội đã hy sinh được khắc sâu để không ai quên. Tôi nhớ rõ một đêm năm 1969, sau trận bom B-52 rải thảm gần đồi Chi Luông, cả đội ngồi trong hầm tối, đèn dầu chập chờn. Một anh đồng đội vừa mất, chúng tôi lặng lẽ lấy đất đỏ viết tên anh lên vách đá: “Anh Lò Văn Hùng – hy sinh vì miền Nam thân yêu – 1969”. Nước mắt rơi xuống đất, hòa vào mực đỏ, nhưng chúng tôi vẫn viết tiếp, viết lời hứa sẽ tiếp tục con đường anh để lại. Những dòng chữ ấy không phai, dù mưa dột, dù bom rung chuyển đất.
Gió núi lạnh buốt, đất bazan dính đầy tay, nhiều anh em sốt rét run người, chất độc da cam khiến mắt mờ, tay run khi viết, nhưng chúng tôi vẫn viết, vẫn khắc. Chúng tôi chia nhau từng nắm đất đỏ, từng cành cây, động viên nhau: “Chữ còn đây, đồng đội còn sống trong tim, miền Nam sẽ về”. Những dòng chữ viết bằng đất đã trở thành di chúc, thành bài thơ, thành lời nhắc nhở mỗi khi chúng tôi mệt mỏi, để tiếp tục đào hầm, lấp hố bom, vận chuyển hàng cho tiền tuyến.
Đến năm 1970, khi tôi xuất ngũ, mang theo kỷ niệm chương và những vết sẹo chiến tranh, tôi trở về Bản Chi Luông, thấy những phiến đá cũ vẫn còn vương vết đất đỏ, núi rừng vẫn xanh, nhưng biết bao đồng đội đã nằm lại mà tên họ vẫn khắc trên đá. Giờ đây, ở tuổi già, cầm nắm đất đỏ bazan nghe gió thổi qua rừng, tôi kể lại cho con cháu nghe về những đêm viết chữ ấy. Chúng tôi chỉ là những thanh niên vùng cao bình thường, nhưng đã dùng đất mẹ để viết nên lịch sử, để đền ơn Tổ quốc. Lực lượng Thanh niên xung phong – những bóng hoa lửa thầm lặng trong những dòng chữ đất đỏ – mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tôi mong các cháu sẽ giữ gìn hòa bình hôm nay, noi gương cha anh, để đất đỏ bazan mãi đỏ, non sông mãi vững vàng, trường tồn.



