Những bức tâm thư tuổi 20
Qua sự giới thiệu của Hội Cựu chiến binh tỉnh Điện Biên, chúng tôi đến thăm ông Trần Đình Đường, 92 tuổi, tại ngôi nhà nhỏ sát chân đồi A1. Khi chúng tôi đến, người cựu chiến binh già đã vận sẵn bộ quân phục đính đầy huy chương, huy hiệu. Ông bày biện nào ảnh, nào bằng khen và cả một tập những trang báo cũ về Chiến dịch Điện Biên Phủ mà ông sưu tầm nhiều năm trước.

Những bức tâm thư tuổi 20
Qua sự giới thiệu của Hội Cựu chiến binh tỉnh Điện Biên, chúng tôi đến thăm ông Trần Đình Đường, 92 tuổi, tại ngôi nhà nhỏ sát chân đồi A1. Khi chúng tôi đến, người cựu chiến binh già đã vận sẵn bộ quân phục đính đầy huy chương, huy hiệu. Ông bày biện nào ảnh, nào bằng khen và cả một tập những trang báo cũ về Chiến dịch Điện Biên Phủ mà ông sưu tầm nhiều năm trước.
Tuy ông Đường đi lại không còn nhanh nhẹn nhưng giọng nói của ông thì vẫn rõ ràng, mạch lạc, rồi ông cứ thế kể chuyện Điện Biên Phủ cho chúng tôi nghe.

Ở tuổi đôi mươi, ông Đường viết đơn xung phong ra chiến trường. Điều ấy thật hiển nhiên vì các anh em họ hàng, bạn bè đồng trang lứa của ông cũng đều làm như vậy.
“Khi Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946, lứa thanh niên ngày ấy sục sôi ý chí lên đường đánh Tây. Đủ tuổi, đủ tiêu chuẩn thì vào bộ đội, nếu không thì đi thanh niên xung phong,” ông Đường kể.
Học xong chương trình phổ cập, chàng trai trẻ Trần Đình Đường cùng người bạn thân cùng xóm tên Võ Bá Sơn rủ nhau viết đơn xin đi thanh niên xung phong cùng một đợt.
Nhắc đến người bạn, ông Đường ngậm ngùi: “Hoàn cảnh của ông Sơn rất đáng thương. Cha chết đói, mẹ chết no, ông ấy chỉ có một mình nên quyết tâm phải ra trận đánh giặc. Chính nỗi căm hờn ấy, ý chí kháng chiến ấy đã ảnh hưởng đến tôi rất nhiều.”
Ông Đường kể rằng nạn đói năm Ất Dậu (1945) đã cướp đi người cha của ông Sơn, sau đó mẹ ông được người ta thương tình cho ăn một bữa rồi cũng vì nhịn đói lâu ngày, bà bội thực mà qua đời. Câu chuyện sao mà chua xót, đúng như những gì nhà văn Nam Cao từng viết trong tác phẩm “Một bữa no”…

Nụ cười của đồng đội. (Ảnh minh họa: TTXVN)
Mang trong mình nỗi khổ mất người thân trước nỗi đau mất nước, hai người bạn cùng quê Nghệ An gia nhập thanh niên xung phong. Họ hành quân ra Thanh Hóa, Sơn La rồi lên Điện Biên, được chuyển sang bộ đội. Ông Đường có nhiệm vụ trực đường dây điện thoại còn ông Sơn là liên lạc viên đại đội.
Họ sát cánh bên nhau chiến đấu cho đến ngày khải hoàn, cùng tham gia tái thiết Điện Biên rồi kháng chiến chống Mỹ, ông Sơn mới qua đời do tuổi cao sức yếu.
Khí thế xung phong dường như là điểm chung của tất cả thanh niên đôi mươi ngày ấy, dù là nam hay nữ.
Bà Nguyễn Thị Lý, 89 tuổi, hiện đang sống phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ vẫn vẹn nguyên ký ức một thời “Dốc Pha Đin chị gánh, anh thồ/Đèo Lũng Lô anh hò, chị hát”.
Bà Lý là dân công hỏa tuyến tham gia vận chuyển lương thực cho quân đội ta tại chiến trường Điện Biên Phủ. Tuổi cao khiến cho trí nhớ của bà đôi lúc như phủ mây mù. Bà không còn nhớ rõ năm tháng, sự kiện nhưng câu chuyện “chị gánh, anh thồ” dường như chính là kỷ niệm đẹp nhất của cuộc đời, được bà kể lại cho chúng tôi nghe với ánh mắt rạng rỡ.

Sinh ra và lớn lên ở thôn An Lạc, xã Hạnh Phúc, huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hóa), đến năm 1953, cô gái Nguyễn Thị Lý tròn 18 tuổi. Hưởng ứng lời hiệu triệu toàn dân tham gia vận tải lương thực phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ, cô Lý cũng viết đơn xung phong lên đường.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

“Thời điểm ấy, trong thôn, xã đâu đâu cũng có khẩu hiệu ‘Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng’. Rất nhiều người dân tình nguyện tham gia phục vụ chiến dịch. Đường ra mặt trận đông như hội. Có lẽ chỉ còn người già, trẻ em ở lại quê nhà,” bà Lý kể.
Sau khi vượt qua các “vòng tuyển,” tham gia học chính trị, học cầm súng, bà Lý cùng hàng trăm nam thanh nữ tú khác đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển lương thực, thực phẩm cho chiến trường.
Ngày đó, toàn bộ hàng hóa thiết yếu từ khắp nơi trong tỉnh được tập trung về Thọ Xuân rồi tỏa đi nhiều cung đường khác nhau để đảm bảo an toàn, bí mật lên Sơn La, Hòa Bình rồi mới tiếp tục chuyển vào những kho lớn tại Điện Biên.
Trung bình mỗi chị em phụ nữ gánh 20kg gạo đi bộ một chặng đường dài. Cứ màn đêm buông xuống là họ lên đường để tránh sự phát hiện của mật thám, máy bay địch.
Theo bà Lý kể, để đưa gạo đến nơi an toàn là cả một quá trình gian nan, vất vả không lời nào tả hết. Cơm ăn, nước uống thiếu thốn. Bom đạn quân địch nổ sát bên tai. Đường rừng hiểm trở, dốc cao, vực sâu, muỗi rừng cắn gây bệnh sốt rét… Lại thêm chị em phụ nữ “đến tháng,” phải tìm đường ra suối, vào nhờ nhà dân để rửa ráy, vệ sinh.
Khó khăn, gian khổ là thế, nhưng với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng,” từng đoàn xe đạp thô sơ, người gánh gồng nườm nượp nối nhau vượt qua núi cao, đèo sâu vào chiến dịch.



