NHỮNG CÁNH CHIM MỞ LỐI
Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Blao (tiền thân của NLU) được thành lập từ năm 1955 nhưng đến năm 1959, khi các giảng đường, phòng thí nghiệm, nông trại, cư xá sinh viên được xây dựng khang trang và quan trọng hơn hết là đội ngũ giảng viên được tăng cường đầy đủ, NLU mới chiêu sinh khóa đào tạo kỹ sư nông nghiệp đầu tiên. Trong 04 năm sau đó, Trường đã đào tạo được hai khóa kiểm sự, khóa thứ ba đang đi thực tập tốt nghiệp, khóa thứ tư đang theo học năm thứ hai tại trường, khóa thứ năm vừa mới nhập học năm thứ nhất tại trường.
Để chuẩn bị cho chương trình đào tạo kỹ sư nông nghiệp, Ban Giám đốc Nhà trường đã có những bước đi rất thận trọng: xây dựng trường sở khang trang, đội ngũ giáo viên hùng hậu, tài giỏi, trình độ quốc tế, có uy tín trong giới đại học quốc tế.
Trước khai giảng khóa đào tạo kỹ sư đầu tiên 01 năm, GS.BS. Đặng Quang Điện sang Pháp thăm các trường Đại học Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thú y Pháp, được các trường và Chính phủ Pháp đồng ý viện trợ, cam kết sẽ cử các GS có uy tín sang giảng tại Bảo Lộc, Ban Giám đốc Nhà trường lúc đó mới có quyết định chiêu sinh.
Figure 4 Từ trái qua: BS. Vũ Ngọc Tân (người thứ 3), GS. Bùi Huy Thục (người thứ 4), GS. Đặng Quan Điện (người thứ 5)
Trúng tuyển vào trường thời bấy giờ là những sinh viên ưu tú, trải qua một kỳ thi tuyển cam go sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần, gồm 25 sinh viên giỏi nhất ngành Nông khoa, 15 sinh viên giỏi nhất ngành Lâm khoa và 20 sinh viên giỏi nhất ngành Súc khoa được tuyển vào trường. Tiếng Pháp là chuyên ngữ được sử dụng để giảng dạy trong 04 khóa đào tạo kỹ sư đầu tiên. Chương trình đào tạo kỹ sư thời bấy giờ là chương trình đào tạo tinh hoa: đội ngũ GS giỏi, trình độ quốc tế, sinh viên ưu tú, hiếu học, trường sở, phòng thí nghiệm, nông trại, thư viện được trang bị đầy đủ, môi trường học tập tốt.
Lúc khởi đầu, ngoài 04 chuyên gia đầu ngành gồm 04 người: BS Vũ Ngọc Tân, GS.BS Đặng Quan Điện, GS Lê Văn Ký và GS Bùi Huy Thục nhà trường còn có một đội ngũ GS quốc tế hùng hậu thường trú tại Bảo Lộc gồm tiến sĩ (TS) Maurice Schmidt (Pháp), GS. Tixier (Pháp), TS. Stevens (Mỹ), GS. Hoenninger (Đức), TS. Pecrot (Bỉ). Trong đó, BS. Vũ Ngọc Tân phụ trách môn Động vật học, GS Tixier phụ trách môn Thực vật học, TS. Stevens phụ trách môn Kinh tế đại cường và Xã hội học, TS. Maurice Schmidt phụ trách các môn Địa chất - Thổ nhưỡng, Khí hậu học, GS. Bùi Huy Thục và Maurice Schmidt môn Nông học đại cương, GS. Đặng Quan Điện phụ trách môn Súc học đại cương, kỹ sư (KS) Lê Văn Tâm phụ trách môn Hóa phân tích, trường còn mời thỉnh giảng GS.TS. Lâm Chánh Bình (Đại học Khoa học Sài Gòn) phụ trách môn Hóa học đại cương, Hóa hữu cơ, KS. Trần Văn Bạch phụ trách môn Toán, Lý. Nhà trường cử anh Lê Ngọc Điệp - Trợ lý cho GS Tixier, anh Huỳnh Quang Hải trợ lý cho BS Vũ Ngọc Tân, KS. Phan Như Hy và anh Trần Trung Ngôn trợ lý cho TS. Steven, anh Nguyễn Hoài Đỉnh trợ lý cho GS. Maurice Schmidt, anh Lê Thiệp trợ lý cho Henninger.
Lên đến năm thứ hai và năm thứ ba, ngoài các chuyên gia đầu đàn ở Việt Nam: BS. Vũ Ngọc Tân, GS.BS. Đặng Quan Điện, GS. Tôn Thất Trình, BS. Tôn Thất Ngữ, BS. Lê Phước, BS. Nguyễn Văn Trình, Nguyễn Văn Tư, GS. Lê Văn Ký, GS. Lê Văn Mười, KS. Nguyễn Văn Đức, KS. Trương Văn Hiếu, GS. Bùi Huy Thục, KS. Đoàn Minh Quan, KS. Nguyễn Văn Oánh, KS. Nguyễn Văn Hiệp, KS. Lương Sỹ Chương, một số các môn học được các giáo sư từ Mỹ, Pháp, Đức, Bỉ thường trú tại trường đảm trách gồm các GS. Maurice Schmidt, GS. Tixier, Hoenninger và TS. Pecrot.
Chính phủ Pháp đã cử GS. Robert Barone, GS. Jack Bost, GS. Jacques Euzeby, GS. Joubert, GS. Henri Drieux, GS. Gaury, GS. Macari, GS. Common, GS. Jolly, GS. Guichon, GS. Rollet, GS. Mauraud, GS. Chardin, sang giảng dạy tại trường. Các GS. được cử sang Việt Nam giảng dạy là các giáo sư danh tiếng, không những được kính trọng tại Pháp mà còn rất nổi tiếng trong làng đại học quốc tế, từng có nhiều kinh nghiệm tại các nước nhiệt đới, nhiều vị từng thực hiện nhiều công trình nghiên cứu tại Việt Nam.
Các trường đại học tại Pháp đã cử nhiều giáo sư sang giảng dạy tại Trường trong bốn khóa đầu. Bắt đầu từ khóa 5 (năm 1963) tiếng Việt được sử dụng làm chuyên ngữ chính ở đại học. Tuy nhiên, đối với các giáo sư ngoại quốc, tiếng Pháp vẫn được dùng để giảng dạy.
Đội ngũ cán bộ giảng dạy tại Trường dần dần lớn mạnh với nhiều chuyên viên danh tiếng của Bộ Canh Nông chuyển về trường trong đó có GS. Tôn Thất Trình, GS. Ngô Bá Thành, BS. Tôn Thất Ngữ, KS. Nguyễn Phố Lu, KS. Nguyễn Hữu Mưu và nhất là sự trở về của nhiều nhà khoa học trẻ tốt nghiệp từ Pháp và Mỹ tham gia công tác giảng dạy thường trực tại Trường. Các phái đoàn Pháp được cử sang giảng dạy tại Trường thưa dần. Chính phủ Pháp đã cử các chuyên gia: KS. Yves Banchi, GS.TS. Denis Nguyễn Phước Du, KS. Trần Văn Nhiều, GS. Lamy, GS. Perpezat, GS. Roth, KS. Durand, KS. Didier sang làm việc thường trú tại Trường.
Từ năm 1964, nhiều TS, ThS, BS, KS đã hoàn thành chương trình đào tạo tại Pháp, tại Mỹ trở về tăng cường cho Ban giảng huấn. Từ Pháp về có TS. Nguyễn Võ Mỹ, KS. Lucien Trọng. Từ Mỹ trở về có BS. Trần Quang Minh, BS. Nguyễn Thành Hải, ThS. Châu Văn Khê, ThS. Nguyễn Văn Tân, TS. Châu Tâm Luân, TS. Bùi Văn Trợ và ThS. Trần Trọng Toàn.
Bắt đầu từ năm 1970, nhiều TS, ThS, KS tốt nghiệp ở Đức, Nhật, Úc, New Zealand, Canada về nước tăng cường cho đội ngũ cán bộ giảng dạy của Trường. Trong đó, các chuyên viên này có ThS. Lê Văn Phong, ThS. Lê Ngọc Chí Minh (K.7), TS. Tô Phúc Tường, TS. Phan Hoàng Đồng, TS. Trương Hoàng Lâm, TS. Phạm Hồng Chương, KS. Huỳnh Văn Quang tham gia ban giảng huấn của Trường và phụ trách phòng thí nghiệm Hóa đất đai.
Từ giai đoạn này, nguồn nhân lực đông nhất là các tân kỹ sư của Nhà trường. Các thủ khoa, á khoa các khóa khi vừa mới tốt nghiệp đều được Nhà trường giữ lại để làm cán bộ giảng dạy và nghiên cứu. Từ khóa đầu tiên đến khóa 12 tốt nghiệp và năm 1974 đã có hơn 70 kỹ sư Nông khoa, Lâm khoa, Súc khoa được tuyển vào ban giảng huấn.
Trong những năm 1970, KS. Bùi Như Hùng từ Viện Khảo cứu Nông nghiệp, ThS. Lê Da Tốn từ Bộ Canh Nông, BS. Phạm Hùng, BS. Vương Quang Phước từ Nha học vụ Nông Lâm Súc và KS. Phạm Minh Xuân (K.12), cũng về tham gia ban giảng huấn của Nhà trường. Đồng thời với việc giữ lại các kỹ sư trẻ mới tốt nghiệp, Nhà trường cũng rất quan tâm đến việc xây dựng ngành Khoa học cơ bản. Cùng với việc tuyển dụng 6 tân khoa khóa 1, cử nhân Phạm Thị Ngọc Chinh tốt nghiệp Đại học Khoa học Sài Gòn cũng được tuyển dụng phụ trách ngành Khoa học cơ bản.
Ngoài ra, Đại học Kỹ thuật Phú Thọ cũng là nơi cung cấp cho Nhà trường một lực lượng giảng viên hùng mạnh. Các KS. Đồng Công Quan, Đoàn Thành Trung tốt nghiệp kỹ sư công nghệ đã được tuyển dụng vào giảng dạy tại ngành Công thôn. Trường Đại học Phú Thọ cũng đã cử gần 10 giảng viên thỉnh giảng sang dạy tại trường, trong đó có các KS. Nguyễn Hữu Bình, Vũ Ngọc Can, Nguyễn Thị Hiệp, Nguyễn Duy Thu Lương, Nguyễn Như Mộng, Phùng Lương Ngọc, Nguyễn Thành Ngưu, Phạm Hữu Tạt, Tôn Thất Thiều, Vĩnh Tiến, Phạm Văn Sanh. Đại học Luật khoa đã cử TS. Châu Tiến Khương, TS. Nguyễn Trường sang giảng dạy các môn Kinh tế tại trường chúng ta.
Cũng ngay sau 05 năm đầu tiên, sau khi khai giảng khóa kỹ sư đầu tiên, Nhà trường đã nhanh chóng cử các giảng viên sang Mỹ, Pháp, Nhật, Úc, Philippines, Thái Lan để đào tạo. Năm 1963, KS. Lê Văn Ký được cử đi đào tạo sau đại học tại Đại học Wisconsin Mỹ. Hai năm sau, (1965), KS. Lưu Trọng Hiếu và KS. Nguyễn Đăng Long tiếp tục lên đường sang Mỹ để theo học các chương trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Lần lượt các KS. Nguyễn Bích Liễu, Ngô Thị Ngọc Diệu, KS. Nguyễn Đình Nghiêm, KS. Nguyễn Phố Lu, KS. Lâm Văn Thương, ThS. Châu Văn Khê, ThS. Nguyễn Văn Tân tiếp tục lên đường sang Mỹ Theo học các chương trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ trong hai năm 1966, 1967.
Trong đó, GS. Lê Văn Ký hoàn thành chương trình thạc sĩ trong 14 tháng, trở về Việt Nam năm 1964, ThS. Nguyễn Phố Lu, TS. Lưu Trọng Hiếu trở về Trường năm 1969, TS. Nguyễn Đăng Long trở về Trường năm 1970, TS. Nguyễn Bích Liễu năm 1971, TS. Châu Văn Khê năm 1971, TS. Nguyễn Văn Tân năm 1973, TS. Lâm Văn Thương năm 1974.
Đồng thời, từ năm 1969 đến 1975, trong khuôn khổ hợp tác giữa Trường Đại học Florida với Trường, lần lượt nhiều giảng viên trẻ đã lên đường sang Florida để theo học các chương trình thạc sĩ và tiến sĩ. Trường còn tranh thủ nguồn học bổng của chính phủ Pháp, đã cử KS. Võ Thị Hỉa và KS. Đỗ Cao Thiện sang Pháp theo học chương trình thạc sĩ. Trường cũng cử KS. Thái Thị Hợi sang Nhật học Kinh tế Nông nghiệp. Các KS. Võ Thị Phương Lan và KS. Võ Văn Thừa được cử sang Úc học về Công trùng học và Lâm nghiệp. KS. Nguyễn Hoàng Hoanh được cử sang Đại học Philippines tại Los Banos để đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ trong khuôn khổ của chương trình SEARCA. Các KS. Nguyễn Thúy Minh, Phạm Ngọc Sang, Huỳnh Văn Xương được cử sang Đại học Chulalongkorn để đào tạo bác sỹ thú y, DVM.
Năm 1959, đồng thời với việc tuyển sinh vào khóa 1 chương trình đào tạo kỹ sư Nông Lâm Súc, Trường cũng tuyển chọn các ứng viên đi du học tại Mỹ. Sau khi trúng tuyển, một số ứng viên đã lên trường theo học năm thứ nhất tại Bảo Lộc để chờ ngày lên đường sang du học tại Mỹ. Trong các ứng viên này có các anh Dương Trung Hưng, Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Văn Tiên, Trần Trọng Toàn. Một số ứng viên khác ở lại Sài Gòn để học Anh văn trong khi chờ ngày lên đường sang Mỹ du học. Các anh Vương Quang Hải, Châu Văn Khê, Châu Tâm Luân, Nguyễn Văn Tài đã lên đường sang Mỹ vào năm 1959. Các anh Nguyễn Thành Hải, Trần Quang Minh, Ngô Đình Ngoan, Nguyễn Văn Hỷ, Phạm Phi Hoành lên đường sang Mỹ sớm hơn.
Năm 1959, anh Nguyễn Viết Chương, bạn đồng hành của tôi ở Trung học Petrus Ký được học bổng của chính phủ Úc lên đường sang Úc học tại Đại học Queensland, tốt nghiệp tiến sĩ vào năm 1968, trở về nước xây dựng Khoa Nông nghiệp, Viện Đại học Cần Thơ.
Các sinh viên trung đẳng khóa 1, khóa 2, khóa 3, sau khi tốt nghiệp kiểm sự cũng được gửi sang Mỹ du học tiếp chương trình đào tạo cử nhân và một số đạt thành tích xuất sắc trong học tập được tiếp tục học lên thạc sĩ.
Đầu thập niên 1960, các thầy Nguyễn Văn Mừng, Trương Đình Phú, cô Nguyễn Thị Quýt cũng đã lên đường sang Mỹ du học. Không những gửi giáo viên sang Mỹ, Pháp, Nhật, Úc, Philippines, Thái Lan, Nhà tường còn tranh thủ chương trình học bổng SEARCA của Tổ chức Hội đồng các Bộ trưởng giáo dục Đông Nam Á (SEAMEO) gửi các sinh viên sang Đại học Philippines tại Los Banos để đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ.
Như vậy, ngay từ đầu mới thành lập, đội ngũ lãnh đạo đã rất quan tâm đến việc đào tạo các kỹ sư Nông nghiệp có trình độ, có năng lực góp phần vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp khi hòa bình trở lại trên quê hương. Nhà trường luôn luôn tranh thủ mọi nguồn tài trợ để đào tạo nhân tài cho đất nước và chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy được trường quan tâm hàng đầu. Qua bảng danh sách các cán bộ của Nhà trường năm học 1971 - 1972 mà tôi có được, chúng ta thấy được thực lực của ban giảng huấn của Nhà trường thời đó và chúng ta thấy được mối quan tâm của Nhà trường trong việc xây dựng một đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao.
Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại trên quê hương, Đại học Nông nghiệp Thủ Đức đứng trước tình trạng băng não, chảy máu chất xám trầm trọng. Nhiều cán bộ giảng dạy, nhất là những con chim đầu đàn đã từ giã trường, rời xa quê hương sống tha phương nước ngoài. Nhiều giảng viên đã được điều động từ các Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Bắc, Bắc Thái vào Nam tăng cường Ban giảng huấn. Nhiều tân kỹ sư tốt nghiệp các khóa 13,14,15,16 và nhiều khóa sau này được tuyển dụng với số lượng lớn, hàng năm từ 10 đến 20 cán bộ trẻ dược giữ lại trường để giảng dạy hoặc nghiên cứu. Trường không những giữ lại các sinh viên ưu tú của trường mà còn tuyển dụng sinh viên của Đại học Tổng hợp, Đại học Bách khoa, Đại học Dược khoa về tăng cường Ban giảng huấn. Số giảng viên cơ hữu của trường càng ngày càng gia tăng, lên đến 574 gồm 16 phó GS, 76 TS, 202 ThS, 226 KS hoặc cử nhân. Thông qua con đường hợp tác quốc tế và thông qua quỹ đào tạo nước ngoài bằng kinh phí nhà nước, Nhà trường vẫn đang tiếp tục phát triển nguồn nhân lực như đã đề cập trong phần hợp tác quốc tế.
Lời tự sự:
Tôi đến với NLU từ thuở Nhà trường mới thành lập nên được hiểu biết nhiều về Nhà trường. Tôi cũng viết về chuyện thuở xưa, chuyện ngày xửa, ngày xưa, cái thuở ban đầu lưu luyến ấy ngàn năm nào dễ mấy ai quên. Nhiều bạn trẻ khuyên tôi đừng níu kéo thời gian, hãy hướng về tương lai. Tôi ôn cố tri tân và tôi luôn hướng về tương lai với mong mỏi và tin tưởng tương lai của NLU sẽ xán lạn hơn, rực rỡ hơn và huy hoàng hơn.
NHỮNG VIÊN GẠCH ĐẦU TIÊN
Bùi Chí Bửu, Cựu Sinh viên Canh nông Khóa 13
Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao (tiền thân của NLU) được thành lập vào năm 1955. Một năm trước ngày khai giảng khóa đào tạo kỹ sư đầu tiên, Giáo sư Đặng Quan Điện đã sang Pháp, được sự đồng ý của các trường Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thú y và Chính phủ Pháp, cam kết cử các giáo sư có uy tín sang giảng tại Bảo Lộc. Đó là các Giáo sư Maurice Schmidt (Pháp), Tixier (Pháp), Pecrot (Bỉ), Stevens (Mỹ), Hoenninger (Đức). Họ đã ở Bảo Lộc suốt 4 khóa đầu tiên theo lời kể của Thầy Lưu Trọng Hiếu và còn nhiều Thầy ngoại quốc nữa. Khóa chúng tôi được Giáo Sư George A Marlowe Jr. (ĐH Florida) dạy môn Horticulture.
Figure 19 Một trong những khóa sinh viên đầu của Nông Lâm Súc
Riêng sinh viên khóa 13 chúng tôi được học trực tiếp với GS. Roth giảng dạy về côn trùng, TS. Trần Văn Nhiều (dạy Công thôn), KS. Yves Banchi (dạy Hóa thảo mộc), Ông Campagnol dạy về Cao su, Ông Touzei dạy tiếng Pháp. Cùng lúc ấy, những du học sinh ở Pháp trở về như TS.KS. Nguyễn Võ Mỹ, KS. Lucien Trọng (phụ trách thư viện); KS. Nguyễn Kim Môn (Nha khí tượng Saigon, dạy môn Khí tượng Canh nông), BS. Ngô Bá Thành (thành lập khoa Ngư nghiệp 1974 - tiền thân của Thủy Sản sau này).
Những du học sinh từ Hoa Kỳ trở về như BS. Trần Quang Minh, BS. Nguyễn Thành Hải, TS. Châu Văn Khê (Công thôn), TS. Nguyễn Văn Tân (Di truyền), TS. Châu Tâm Luân (Kinh tế), TS. Bùi Văn Trợ, TS. Trần Trọng Toàn, TS. Lưu trọng Hiếu, TS. Nguyễn Đăng Long, TS. Nguyễn Bích Liễu, TS. Nguyễn Phố Lu, ... Khóa chúng tôi rất tự hào được học với nhiều người thầy đáng kính ấy.
Sau 1970, những du học sinh ở Đức, Nhật, Úc, New Zealand trở về như Lê Văn Phong, Dương Đình Học, Lương Tấn Tước, Lê Ngọc Chí Minh, TS. Tô Phúc Tường, TS. Phan Hoàng Đồng, TS. Nguyễn Viết Trương (Sinh lý đồng cỏ, Đại học Queensland, 1968), TS. Trương Hoàng Lâm, TS. Phạm Hồng Chương, Đặng Ngọc Sơn, Lê Dũng Dân, Trần Văn Dương, Trần Văn Bạch (Cựu Bộ trưởng Công chánh) tốt nghiệp tại Pháp, giảng dạy Calcul Différentiel (Toán tích phân), … Họ đã góp phần tạo nên một nguồn nhân lực đáng kể cho “Khoa học Nông nghiệp” của miền Nam lúc bấy giờ, nơi tập họp trí tuệ mạnh nhất.
Riêng lớp Canh Nông khóa 13 của chúng tôi, Thầy Tôn Thất Trình đáng kính luôn luôn là người đầu tiên chúng tôi nhắc đến. Chúng tôi kính trọng Thầy không chỉ kiến thức uyên bác trong lĩnh vực nông học, Thầy còn truyền được nguồn cảm hứng mạnh mẽ với nghề. Thầy đã là chuyên viên cao cấp của FAO từ 1974 rồi trở lại phụ trách International Rice Commission nhiều năm liền. Sau 1977 (bao gồm 115 quốc gia thành viên trồng lúa). Tôi gặp Thầy tại IRRI năm 1985 và vài lần sau đó trong các Hội nghị lúa gạo của FAO cùng với TS. Trần Văn Đạt, TS. Nguyễn Văn Ngưu.
Tiếp theo là GS.TS. Thái Công Tụng là cựu học sinh Quốc học Huế, kỹ sư Nông học và Cử nhân Khoa học tại Toulouse. Thầy tốt nghiệp tiến sĩ Khoa học (1965) tại Pháp với luận án “Étude pédologique de la moyenne vallée du Sông Ba” và “Les principales formations végétales de la plaine de Phan Rang” và dạy chúng tôi môn Thổ nhưỡng học. Thầy là Giáo sư của nhiều đại học trong nước vào thập niên 1970 như: Đại học Khoa học, Đại học Văn khoa và Học viện Quốc gia Nông nghiệp Saigon. Trước 1975, Thầy Tụng giữ nhiệm vụ Giám đốc Viện Khảo cứu Nông nghiệp (nay là Viện KHKTNN miền Nam), Trưởng khối Kế hoạch và Kỹ thuật Bộ Canh nông. Sau 1975, Thầy định cư tại Canada, tham gia các tổ chức quốc tế, công tác tại Caraïbes (Haïti), Rwanda, Guinée-Bissau, Mali, Niger, Népal, với tư cách điều phối viên dự án nông nghiệp. Thầy vận dụng rất khéo thơ Kiều và ca dao, nhất là truyện kể của Sơn Nam vào trong bài giảng. Buổi học của Thầy bao giờ cũng sinh động bởi chất văn học ấy. Môn Khoa học Đất của Thầy cuốn hút sinh viên chúng tôi với người trợ lý thực hành dễ thương có tên Hồ Thại. Chúng tôi không bao giờ quên những lần Thầy hướng dẫn thực địa tại Đồng Nai, Bà Rịa, định danh tên đất, tên loài cây và sinh thái vùng.
“Ai ơi chua ngọt đã từng/Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Tôi luôn nhớ đến Thầy với lòng tri ơn và kính trọng đặc biệt. Thầy trò thường xuyên viết thư cho nhau mãi đến bây giờ. Thầy đã chia sẻ rất nhiều những bài viết của mình về đất, nước và con người với triết lý nhân sinh rõ ràng và đậm chất văn học qua ca dao và thơ văn trích dẫn.
Người Thầy thứ ba tôi muốn nhắc đến là GS. Lê Văn Ký, là một trong bốn 4 thành viên sáng lập NLU bấy giờ. Khóa đàn anh thường nhắc lại những ngày đầu tiên (1955), GS. Lê Văn Ký và GS. Rocher phụ trách môn Lâm học đại cương. Năm 1963, Thầy Lê Văn Ký đã được cử đi đào tạo Đại học Wisconsin Mỹ về Lâm sinh, Thống kê học và hoàn tất MSc năm 1964. Thầy dạy chúng tôi môn Thống kê học và Phương pháp thí nghiệm. Uyên bác về kiến thức, dí dỏm pha trò với tính cách người Nam Bộ, Thầy trở nên gần gũi như một người anh lớn trong nghề. Nhớ đến Thầy là nhớ đến một gia đình truyền thống gắn bó với nông nghiệp. Đó là TS. Lê Thị Sen (côn trùng học) là em gái út, PGS. Phạm Văn Kim (bệnh cây) - em rể và hai cháu trai TS. Lê Quang Minh (Hiệu trưởng Đại học Cần Thơ) và ông Lê Minh Hoan (Bộ trưởng NN và PTNT).
Người Thầy thứ tư là Giáo sư Đặng Quan Điện. một trong 04 thành viên tiên phong sáng lập NLU bây giờ. Năm 1945, Thầy sang Pháp du học tại trường Quốc gia Thú y Lyon, tốt nghiệp Bác sĩ Thú y với đề tài “Contribution à l’anatomie des arteres de la poule domestique (Phasianus gallus)”. Thầy được tuyển chọn đào tạo cao học tại trường Quốc gia Thú y Lyon (1951-1953) và Trường Quốc gia Thú y Alfort (1957-1958). Thầy đã thực tập ở Pháp, Đan Mạch, Scotland, Úc và New Zealand. Thầy đã đảm nhận: Chánh sự vụ Sở sản xuất gia súc, Nha Mục súc (1953-1957); tham gia quy hoạch trung tâm Thực nghiệm Chăn nuôi đại gia súc như Trung tâm Tân Sơn Nhất, Trung tâm Bò sữa Bến Cát, Trung tâm Bò và Trâu sữa Hưng Lộc, Trung tâm Nha Hố, Trung tâm Khánh Dương. Hình ảnh cuối cùng của Thầy tại Lò Gò - Xa Mát năm 2006 đã in đậm trong sự thương nhớ của mọi người!
Người Thầy tiếp theo là TS. Châu Tâm Luân (1939-2016)là một chuyên gia về kinh tế nông nghiệp, tốt nghiệp tiến sĩ tại Hoa Kỳ. Thầy là nhân vật hàng đầu trong phong trào đấu tranh cho hoà bình, độc lập và thống nhất đất nước trước 1975. Sau này, Thầy ra nước ngoài, làm việc cho FAO và định cư ở Thuỵ Sĩ. Thầy đã nhiều lần trở về thăm Việt Nam, có dịp gặp lại nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bác Sáu Dân rất trân trọng tấm lòng yêu nước và chính trực của Thầy. Thầy dạy chúng tôi môn Kinh tế Nông nghiệp (1971). Tôi vinh dự đón thầy về thăm Viện KHKTNN Miền Nam năm 2010, nghe Thầy nói chuyện về nông nghiệp châu Phi và những nơi Thầy đã trải nghiệm. Thầy chia sẻ thực lòng về những thay đổi trong sự nghiệp đổi mới của Việt Nam. Thầy mất tại Genève (Thuỵ Sĩ) năm 2016, thọ 77 tuổi, để lại cho thế hệ chúng tôi bài học “chính trực” và “thăng trầm dịu ngọt đắng cay. Nỗi niềm thương nhớ biết ngày nào nguôi”.
Tiếp theo là TS. Nguyễn Đăng Long (1937-2025) sinh tại Gò Công (Tiền Giang). Thầy Long và Thầy Lưu Trọng Hiếu (khóa 1) cùng sang Mỹ du học vào năm 1965. Thầy về trường năm 1970 sau khi tốt nghiệp PhD về Bệnh cây. Chúng tôi học Thầy rất nhiều về phong cách nghiên cứu khoa học hàn lâm như chuyên ngành nấm học, vi khuẩn và virus học cùng với Thầy Nguyễn Bá Khương dạy môn Tuyến trùng học. Thầy Long đã dặn chúng tôi rằng: “Các em đừng biết đến mức nguy hiểm”. Mãi nhiều năm sau này, tôi mới hiểu hết ý của Thầy. Biết cái gì phải biết cặn kẽ, đến nơi, đế chốn. Hiểu biết sơ sài nguy hiểm còn hơn chưa biết”. Nhà văn Anh nổi tiếng Bernard Shaw đã nói rằng: “Hãy cẩn thận với tri thức sai; nó nguy hiểm hơn sự dốt nát”. Thầy thường xuyên đến Viện Lúa ĐBSCL trong những ngày đầu tiên thành lập để cố vấn chuyên môn và giúp chúng tôi hợp tác với chuyên gia Ấn Độ. Giáo Sư Kandaswamy (Đại học Tamil Nadu) rất quý Thầy như một người bạn tâm giao có kiến thức chuyên sâu.
Người Thầy tiếp theo là TS. Lưu Trọng Hiếu (1938-2008) là người Thầy mà tôi được tiếp cận nhiều nhất kể từ ngày ra trường. Lớp dạy cao học của tôi cạnh bên phòng làm việc của Thầy. Đặc biệt, thời gian Thầy phụ trách mảng hợp tác quốc tế ở NLU. Thế hệ chúng tôi kính phục trí nhớ tuyệt vời của Thầy khi Thầy dạy cả 3 khối Nông, Lâm và Thú y. Môn Sinh hóa mà Thầy phụ trách rất khó nuốt trôi đối với chúng tôi bấy giờ và phải thi lại. Thầy đã khuyên tôi nên viết lại những trải nghiệm trong nghề vì Thầy biết tôi đi lại rất nhiều nơi trong và ngoài nước giống như Thầy. Nhớ có lần chúng tôi đón nhận tin rất vui: Ngày 9/10/2004, Đại học Nông nghiệp Thụy Điển Uppsala tổ chức lễ trao tặng bằng tiến sĩ danh dự cho Thầy. Chúng tôi ăn mừng sự kiện bằng tiệc trà, bánh ngọt do anh Nguyễn Văn Công tổ chức tại Văn phòng Hợp tác Quốc tế của Nhà trường. Ấm áp lạ thường! Hoạt động nổi bật của Thầy là “điều phối viên tích cực” trong chương trình SAREC (Department for Research Cooperation) thuộc tổ chức SIDA (Swedish International Development Cooperation Agency). Mỗi lần gặp nhau, Thầy nói say sưa, hết sức tâm huyết về các dự án nghiên cứu có chọn lọc, hình thành nhóm các nhà khoa học đủ sức giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển của đất nước, nhất là lĩnh vực công nghệ sinh học. Thầy là tấm gương “liêm chính khoa học” của thế hệ sinh viên chúng tôi!
Người Thầy tiếp theo là TS. Tô Phúc Tường sinh năm 1946 tại Phú Thọ. Thầy du học tại Đại học Canterbury, New Zealand từ bậc đại học đến tiến sĩ chuyên ngành nước và đất (1973). Thầy về Sài Gòn sau khi tốt nghiệp ở New Zealand và là giảng viên của Đại học Nông nghiệp. Giai đoạn 1976-1991, Thầy là Trưởng bộ môn Thủy nông thuộc Khoa Nông học. Chúng tôi ấn tượng về một người Thầy là “nhà khoa học trẻ, nói tiếng Anh dễ hơn tiếng Việt” (vì Thầy ở quá lâu tại New Zealand). Thầy có phong cách ngoại giao và nghiên cứu hàn lâm kèm theo một chút khó tính, một chút nghiêm khắc. Năm 1991, Thầy vinh dự được IRRI tuyển chọn làm khoa học gia quốc tế. Thầy trở thành chiếc gạch nối quan trọng từ 1991 đến 2008 cho các sinh viên cũ và mới sang theo học bổng SEARCA hay IRRI, giữa Đại sứ quán ở Manila với các nhà khoa học quốc tế; giữa các nhà khoa học Việt Nam với các hoạt động nghiên cứu của IRRI. Thầy còn là cầu nối giữa các chính khách cao cấp Việt Nam với các khoa học gia quốc tế đầu ngành tại IRRI.
Người Thầy cuối cùng là GS. Mai Trần Ngọc Tiếng tên thật là Dương Thị Mai, sinh năm 1917 tại Gò Công, tỉnh Tiền Giang, tốt nghiệp cử nhân khoa học tại Đại học Sorbonne (Pháp), về nước làm việc tại Đại học Khoa học Sài Gòn, bảo vệ cao học (1957) tại Pháp, lấy bằng tiến sĩ sinh học tại Đại học Purdue (Mỹ) năm 1962. Cô dạy chúng tôi môn Sinh lý thực vật. Cô hiểu rất sâu về chất điều hòa sinh trưởng thực vật, đến mức GS. SC Barghava (IARI, New Delhi) rất kính trọng và ngạc nhiên khi đến thăm Cô vào năm 1997. Giáo sư này chuyên về sinh lý ra hoa thực vật. Cô biết ông qua nhiều bài báo quốc tế và nhắc từng chi tiết nổi bật của “florigen”. Cô rất nổi tiếng trong nông nghiệp thông qua công trình quản lý cỏ dại và phòng chống rụng trái hồ tiêu. Phụ giảng cho cô là TS. Nguyễn Thị Lan (mảng quang hợp, hô hấp, dinh dưỡng khoáng) cũng rất hàn lâm. Khi cô mất vào năm 2010, chỉ có anh Nguyễn Du Sanh và tôi ở bên Cô trước khi các đồng môn đến.
Đến hôm nay, đội ngũ Thầy Cô của NLU được đào tạo chất lượng cao trên khắp thế giới với việc tiếp cận đa dạng kiến thức. “Học tập suốt đời” không chỉ là khẩu hiệu mà là niềm tự hào về truyền thống của một trường đại học tuổi 70. Chúng tôi kính trọng thực sự những tài năng mới của đội ngũ trí thức trẻ NLU hiện tại. Họ được đào tạo chính quy, giỏi về ngoại ngữ, giỏi về chuyên môn, luôn luôn hiếu học, đáp ứng đầy đủ chuẩn mực của Hội đồng chức danh GS nhà nước. Họ xứng đáng được tôn trọng như những hiền tài. “Điểm bắt đầu của mọi tri thức đều đến từ trái tim yêu thương” (Thomas Carlyle). Nhiều tiền bối của chúng ta trở thành tấm gương sáng về “yêu nghề”, “yêu học trò” trên nền tảng triết lý giáo dục “Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng” (trước 1975). Nền giáo dục nhân bản lấy con người làm gốc, tôn trọng giá trị con người, đặt lên hàng đầu.
Với biết bao thăng trầm, khoa học nông nghiệp là một tổng thể của kiến thức thực nghiệm, lý thuyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. NLU đã không ngừng phát triển trong chặng đường lịch sử 70 năm qua là một minh chứng sống động. Khoa học nông nghiệp không thể đứng riêng một mình, phải xem xét cẩn thận các yếu tố kinh tế, môi trường, năng lượng sinh học, thương mại hóa toàn cầu, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số. Đó là những vấn đề lịch sử đang đặt ra cho NLU những thách thức mới để khẳng định vị thế của mình. Mong lắm thay!



