Năm 1969, khi Hồ Chí Minh qua đời, trong hoàn cảnh vùng Hưng Mỹ vẫn nằm dưới sự kiểm soát gắt gao của địch, bà đã dũng cảm vận động nhân dân bí mật dựng đền thờ Bác. Dù chỉ là công trình đơn sơ bằng cây lá và thường xuyên bị địch đe dọa phá hoại, ngôi đền vẫn trở thành điểm tựa tinh thần thiêng liêng, góp phần củng cố niềm tin và ý chí chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân địa phương. Đến năm 1974, khi được giao nhiệm vụ làm Bí thư xã Tân Hưng Đông, bà tiếp tục thể hiện bản lĩnh của một người lãnh đạo kiên cường. Trước tình thế lực lượng ta yếu hơn rất nhiều so với địch tại Chi khu Cái Nước, bà vẫn mạnh dạn tổ chức Đại hội Đảng bộ xã trong hoàn cảnh đặc biệt. Tại đây, trước bàn thờ Bác, bà đọc di chúc và tuyên thệ sẽ giải phóng chi khu, đồng thời quyết định đại hội chỉ khai mạc mà không bế mạc cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ. Từ lời thề thiêng liêng ấy, bà trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũ trang địa phương, không ngại nguy hiểm, thậm chí tự mình thu gom đạn dược, chuẩn bị cho trận đánh. Với sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần đoàn kết của toàn dân, sau hơn 15 ngày chiến đấu kiên cường, quân ta đã buộc địch phải rút chạy, giải phóng hoàn toàn chi khu. Đại hội kết thúc sau 83 ngày, trở thành một sự kiện đặc biệt hiếm có, thể hiện rõ sự gắn kết giữa ý chí chính trị và hành động thực tiễn. Giữ trọn lời hứa trước vong linh Bác, ngay sau chiến thắng, bà tiếp tục vận động nhân dân xây dựng lại đền thờ lần thứ hai ngay trên nền đất từng là nơi địch đóng quân và giam giữ cán bộ cách mạng. Ngôi đền mới được xây dựng khang trang, kiên cố hơn, không chỉ là nơi tưởng niệm mà còn trở thành biểu tượng của chiến thắng, của lòng biết ơn và niềm tự hào dân tộc. Câu chuyện về bà Ba Bay không chỉ ca ngợi lòng dũng cảm và tinh thần chiến đấu kiên cường mà còn khẳng định sức mạnh to lớn của niềm tin, ý chí và sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam. Đồng thời, đó cũng là bài học sâu sắc về việc biến lời hứa thành hành động, biến khó khăn thành động lực để đi đến thắng lợi cuối cùng. |