Cựu chiến binh

Những câu chuyện kể lại

Thôn Phương Đông, thuộc xã Trà Liên, Thành Phố Đà Nẵng là một vùng đất nằm nép mình bên dãy Trường Sơn, nơi núi rừng chồng chất, ôm ấp những con người chân chất, thật thà. Ngày nay, nơi ấy yên bình với tiếng chim kêu và màu xanh của rừng, nhưng trong ký ức của nhiều thế hệ, Thôn Phương Đông từng đi qua những tháng năm “hoa lửa” trong thời kỳ chiến tranh khốc liệt mà cũng đầy nghĩa tình.

Đà Nẵng03/05/2026Nguyễn Thị Kiều Vy (Phương Đông)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những năm kháng chiến, con đường mòn xuyên rừng qua Trà Liên trở thành tuyến liên lạc quan trọng. Ban ngày, bản làng yên ả với nương rẫy, nhưng đêm xuống lại là lúc những bước chân âm thầm vượt dốc, băng rừng. Người dân Thôn Phương Đông, từ các cụ già đến những thiếu niên mới lớn, đều góp sức cho cách mạng. Có người làm chiến sĩ giao liên, có người giấu cán bộ trong những căn hầm bí mật dưới sàn nhà, có người gùi từng bao gạo, từng nắm muối tiếp tế cho bộ đội.

Chiến tranh không chỉ là tiếng súng mà còn là những mất mát lặng thầm. Nhiều mái nhà đơn sơ đã vĩnh viễn thiếu đi bóng người cha, người anh. Có những người mẹ tiễn con ra đi mà không hẹn ngày trở lại. Nhưng trong gian khó ấy, tình làng nghĩa xóm càng bền chặt. Họ chia nhau từng bát cơm, từng củ sắn, đùm bọc nhau qua những ngày bom đạn.

Tôi ngồi bên hiên nhà, cạnh ông ngoại là người đã đi qua gần hết cuộc đời và cũng là người giữ trong mình cả một kho ký ức của những năm tháng chiến tranh.

Trong lúc đó tôi và cả nhà đang xem bài hát “Nỗi đau giữa hòa bình “ của Nguyễn Văn Chung sáng tác, cho giọng hát của Hòa Minzy . Khi vừa xem xong, ông tôi ánh mắt nhìn xa xăm, giọng trầm lại và nói:

“Hồi xưa, cái thôn mình không yên bình như bây giờ đâu con…”

Tôi im lặng, nghe từng lời ông kể.

Ông nói ngày đó, thôn Phương Đông còn nghèo lắm. Nhà chỉ là vách nứa, mái tranh. Ban ngày, ai cũng lên rẫy, trồng sắn, trồng bắp. Nhưng khi trời vừa sập tối, cả làng như bước sang một thế giới khác. Đèn không dám thắp sáng, tiếng nói cũng phải nhỏ lại.Hồi đó đâu có giờ giấc rõ ràng như bây giờ đâu con. Có khi đang ngủ cũng phải dậy đi liền. Nhiều bữa vừa nhắm mắt được chút là có tín hiệu, lại xách đồ lên đường.

Sau đó tôi liên tục hỏi rất nhiều về địa phương mình như nào.

Ông vẫn ngồi giải thích ra cho tôi hiểu .Tôi hỏi rất nhiều :

Rồi ông đem theo cái gì để phòng cho bản thân?”

Ông trả lời

“À thì cũng chẳng có chi nhiều. Ít cơm mà hồi xua họ hay gối thành hình khối đó con biết không, bi đông nước, với mấy thứ cần thiết thôi. Đi rừng mà mang nặng là không sống nổi. Có khi đói quá, thấy củ mài, rau rừng gì ăn được là đào lên ăn luôn”

Tôi:“Đi trong rừng ban đêm, ông không sợ lạc đường hà?”

Ông:“Lúc đầu cũng sợ chứ. Nhưng đi riết quen. Nhìn cây, nghe nước chảy, ngửi mùi đất là biết hướng. Nhiều khi không dám bật đèn, chỉ lần mò thôi.”

Tôi:“Có lần mô ông gặp cái chi mà nguy hiểm chưa?”

Ông:“Có chớ ,có lần đang đi thì nghe tiếng động, nằm rạp xuống luôn. Lính địch đi ngang sát bên, nghe rõ cả tiếng nói. Tim đập mạnh tới mức ông tưởng họ nghe thấy. Nằm im, không dám thở mạnh luôn, qua được rồi mới thấy mình còn sống.”

Tôi:“Lúc đó ông có nghĩ mình không xong rồi không?”

Ông“ Nghĩ nếu bị bắt thì chắc không còn về nữa. Nhưng cũng không dám nghĩ nhiều, càng nghĩ càng run. Cứ tự nhủ “im đi, đừng động đậy”."

Tôi:“Rứa thời đó ông có thời gian rãnh ông làm gì?”

Ông:“Rảnh là ông tranh thủ ngủ. Có khi ngồi tựa gốc cây cũng ngủ được. Mấy anh em hay kể chuyện quê, chuyện nhà để quên mệt.”

Tôi nhìn đôi tay ông và những ngón tay gầy guộc, chai sạn. Không ai nghĩ rằng đôi tay ấy từng cầm nhưng vũ khí, từng vượt qua bao hiểm nguy.

Ông kể có lần, cả làng bị càn quét. Bom nổ, lửa cháy khắp nơi. Mọi người phải chạy vào rừng sâu, mang theo những gì có thể.
“Lúc đó chỉ sợ nhất là lạc nhau,” ông nói, mắt có vẻ buồn. “Có người đi rồi không về nữa”

Giọng ông chậm lại. Tôi cảm nhận rõ nỗi đau vẫn còn đâu đó, dù chiến tranh đã rất lâu.

Nhưng rồi ông mỉm cười nhẹ:
“Mà cũng nhờ vậy, thôn mình thương nhau lắm. Có củ sắn cũng chia đôi. Ai có gì ăn nấy, không ai bỏ ai hết.”

Ông nói về những ngày đào hầm dưới sàn nhà để giấu cán bộ, về những lần cả thôn cùng nhau dựng lại nhà sau khi bị phá. Khó khăn là vậy, nhưng chưa bao giờ ông thấy người dân mình bỏ cuộc.

Tôi hỏi ông:
“Ông có sợ không?”

Ông cười,nói:
“Sợ chứ con. Ai mà không sợ. Nhưng lúc đó chỉ nghĩ đơn giản là phải giữ làng, giữ đất. Với lại còn trẻ mà, gan lắm.”

Tôi hỏi một câu làm ông im một lúc rồi mới trả lời:

“Giờ kể lại, ông thấy buồn không ông?”

Ông nói : “Có chớ. Hồi đó cực thiệt, nhưng tụi ông chỉ nghĩ đơn giản là ráng làm cho xong việc. Giờ còn ngồi đây nói chuyện với con là may mắn rồi.” Con nghe mà thấy vừa thương vừa nể ông.

Ông cười và nói :“Thôi, thời nào việc nấy thôi con. Giờ tụi con sống cho tốt là ông mừng rồi.”

Đêm đã khuya, tiếng côn trùng rả rích quanh nhà. Tôi ngồi đó, nghe câu chuyện của ông, thấy quá khứ như sống lại nhưng không phải qua sách vở, mà qua chính ký ức của người đã trải qua.

Nghe ông kể, tôi chợt nhận ra những câu chuyện tưởng như nhỏ bé ấy lại chính là một phần của lịch sử quê hương. Mỗi kỷ niệm ông nhắc đến không chỉ là ký ức riêng của một con người, mà còn là mảnh ghép của cả một thời kỳ đầy biến động của thôn Phương Đông. Những con đường rừng ông từng đi qua, những căn hầm ông từng trú ẩn, hay những bữa cơm chia đôi , tất cả đã góp lại thành câu chuyện chung của cả làng và một câu chuyện mà nếu không được kể lại, có lẽ sẽ dần lặng im theo năm tháng.

Và từ những lời kể mộc mạc ấy, bức tranh về Thôn Phương Đông trong thời hoa lửa dần hiện ra rõ hơn , không chỉ qua ký ức của ông tôi, mà còn qua ký ức của biết bao con người đã từng sống, từng chiến đấu và từng hy sinh trên mảnh đất này.

Theo những người trong thôn kể rằng những trận càn quét của địch từng khiến thôn chìm trong khói lửa. Rừng bị đốt, nhà bị phá, nhưng ý chí con người nơi đây không khuất phục. Sau mỗi lần như vậy, người dân lại dựng lại nhà cửa, lại gieo trồng trên mảnh đất cũ, như một cách khẳng định: “Chúng tôi vẫn ở đây, vẫn sống, vẫn giữ đất này.”

Hòa bình lập lại, Thôn Phương Đông dần hồi sinh. Những con đường đất năm xưa nay đã được mở rộng, trẻ em được đến trường, tiếng cười thay cho tiếng súng. Nhưng ký ức về một thời hoa lửa vẫn còn đó và không phải để khơi lại đau thương, mà để nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình.

Tôi nhìn ông, rồi nhìn ra khoảng trời đêm yên tĩnh trước mặt. Những gì ông đã trải qua, tôi chưa từng thấy, nhưng tôi có thể cảm nhận được qua từng câu chuyện. Và tôi hiểu rằng, mỗi tấc đất quê hương này đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt, và cả máu của những con người đi trước.

Câu chuyện của thôn Phương Đông không phải là những trang sử lớn lao ghi trong sách, mà là lịch sử sống động được viết nên từ chính cuộc đời của những con người bình dị như ông tôi. Chính họ, bằng lòng dũng cảm và sự hy sinh thầm lặng, đã góp phần làm nên những năm tháng không thể nào quên của quê hương.

Đó là một câu chuyện gần gũi, chân thực về con người, về đất, và về một thời mà “hoa lửa” đã thử thách nhưng cũng làm sáng lên tình yêu quê hương, đất nước. Và với tôi, câu chuyện ấy sẽ còn được kể mãi, như một cách để nhớ, để biết ơn, và để không bao giờ quên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn