Những câu chuyện thời hoa lửa
Những câu chuyện thời hoa lửa
Mùa thu năm 1945, khi tiếng Tuyên ngôn Độc lập còn vang vọng trên Quảng trường Ba Đình, đất nước vừa bước sang trang sử mới thì bóng dáng chiến tranh đã lại phủ xuống. Thực dân Pháp quay trở lại, mang theo súng đạn và tham vọng cũ. Từ thành thị đến thôn quê, từ đồng bằng lên miền núi, cả dân tộc bước vào cuộc trường chinh mới – cuộc kháng chiến chín năm gian khổ mà hào hùng.
Ở một làng quê ven sông Đáy, anh Nguyễn Văn Lâm tạm biệt mái nhà tranh, tạm biệt người mẹ tóc đã lấm tấm bạc để lên đường theo tiếng gọi non sông. Hành trang của anh chỉ có bộ quần áo nâu, đôi dép cao su cắt từ lốp xe và lời dặn dò nghẹn ngào của mẹ: “Con đi đánh giặc, nhớ giữ lấy mình, còn sống là còn ngày về.” Anh cúi đầu, không dám nhìn lâu đôi mắt mẹ, bởi sợ nếu nhìn thêm, đôi chân sẽ không đủ vững để bước đi.
Những ngày đầu kháng chiến, đơn vị anh đóng quân ở Việt Bắc. Núi rừng hiểm trở vừa là thử thách, vừa là tấm lá chắn che chở cho bộ đội. Cuộc sống thiếu thốn trăm bề: cơm độn sắn, muối rang chia từng nhúm nhỏ, áo quần vá chằng vá đụp. Nhưng trong gian khó ấy, tình đồng chí, đồng đội nảy nở như mầm xanh sau mưa. Anh em chia nhau từng bát nước suối, từng điếu thuốc lá rừng, động viên nhau vượt qua sốt rét, đói khát và nỗi nhớ nhà da diết.
( Hình ảnh đồng chí Nguyễn Văn Lâm)
Trong những câu chuyện thời hoa lửa ấy, không thể không nhắc đến những con người thầm lặng nơi hậu phương. Ở bản Nà Pheo, có cô bé người Tày tên Hồng mới mười bốn tuổi đã xin làm liên lạc. Dáng người nhỏ bé, đôi chân trần quen leo dốc, em thuộc từng lối mòn, từng khe suối. Ngày ngày, Hồng mang thư từ, dẫn đường cho bộ đội, đôi khi còn gùi gạo, gùi muối tiếp tế cho đơn vị. Có lần, trên đường trở về, em bị toán lính Pháp chặn lại. Tim đập thình thịch, nhưng em vẫn bình tĩnh trả lời rằng mình đi hái măng cho mẹ. Tờ mệnh lệnh quan trọng được giấu kín trong ống tre buộc sau lưng vẫn an toàn. Chính sự mưu trí và gan dạ ấy đã góp phần giữ vững mạch máu liên lạc của chiến khu.
Những đêm đóng quân giữa rừng sâu, bên bếp lửa leo lét, các chiến sĩ thường kể cho nhau nghe về quê hương. Người kể về cánh đồng lúa chín, người nhớ bến sông, nhớ phiên chợ làng, nhớ dáng mẹ còng lưng bên bờ rào. Có anh lấy chiếc harmonica cũ thổi lên vài khúc nhạc, tiếng nhạc mỏng manh mà ấm áp, xua đi nỗi cô đơn và cái lạnh thấu xương của núi rừng. Trong những khoảnh khắc ấy, chiến tranh dường như lùi xa, chỉ còn lại tình người gắn bó keo sơn.
Cuộc kháng chiến ngày một ác liệt. Những trận càn của địch trút bom đạn xuống bản làng, đốt phá nhà cửa, ruộng nương. Nhân dân tản cư, bộ đội vừa chiến đấu vừa bảo vệ dân. Có những bà mẹ giấu cán bộ trong hầm bí mật, nhịn ăn nhường cơm cho bộ đội. Có những em nhỏ làm nhiệm vụ canh gác, báo động khi giặc đến. Tất cả tạo thành một bức tranh lớn về chiến tranh nhân dân – nơi mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng quê là một pháo đài.
Đỉnh cao của chín năm kháng chiến là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Từ khắp các chiến trường, bộ đội hành quân về Tây Bắc. Những con đường kéo pháo gian nan, những dốc núi dựng đứng, bùn đất lầy lội, mồ hôi hòa lẫn máu. Anh Lâm cùng đồng đội đào chiến hào suốt ngày đêm, bàn tay chai sần, móng tay bật máu. Trong mưa bom bão đạn, anh vẫn lặng lẽ viết dở lá thư cho mẹ, hẹn ngày chiến thắng sẽ trở về dựng lại mái nhà xưa.
Trong một đợt xung phong ác liệt, anh Lâm trúng đạn. Anh ngã xuống giữa chiến hào, tay vẫn nắm chặt khẩu súng. Trước lúc nhắm mắt, anh thì thầm: “Đất nước mình rồi sẽ độc lập…” Đồng đội chôn anh ngay dưới chân đồi, cắm một cành cây rừng làm dấu. Sự hy sinh của anh cũng như bao chiến sĩ khác đã hòa vào đất mẹ, nuôi lớn mầm sống của tự do.
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Cát. Tiếng reo hò vang dội khắp núi rừng Điện Biên. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi – nước mắt của niềm vui chiến thắng và của nỗi nhớ thương những người không kịp trở về. Cô bé Hồng ngày nào đứng lẫn trong dòng người, ngước nhìn lá cờ bay phấp phới, trong lòng thầm gọi tên những người đã ngã xuống.
Chiến tranh lùi xa, nhưng những câu chuyện thời hoa lửa vẫn còn đó, sống mãi trong ký ức dân tộc. Đó là câu chuyện về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng, về niềm tin sắt son vào ngày mai độc lập. Ngọn lửa của một thời đạn bom đã hun đúc nên bản lĩnh Việt Nam, để hôm nay, trong hòa bình, chúng ta biết trân trọng từng tấc đất, từng phút giây yên bình mà cha ông đã đánh đổi bằng cả tuổi xuân và máu xương.



