Bài viết

NHỮNG CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

Lịch sử, nếu chỉ là những mốc thời gian, sẽ trở nên khô cứng; nhưng khi được kể bằng những câu chuyện, nó trở thành ký ức sống. “Thời hoa lửa” của dân tộc Việt Nam không chỉ là những năm tháng chiến tranh, mà là thời đại mà mỗi con người – dù là một cậu bé, một người lính hay một bậc chí sĩ già – đều mang trong mình tầm vóc của lịch sử. Những câu chuyện thời hoa lửa vì thế không chỉ để nhớ, mà để hiểu: hiểu vì sao một dân tộc nhỏ bé có thể đứng vững trước bão táp, và hiểu vì sao lòng yêu nước lạ

Gia Lai30/04/2026Liên Chi Đoàn Khoa giáo dục tiểu học và mầm non (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường Đại học Quy Nhơn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

NHỮNG CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

Lịch sử, nếu chỉ là những mốc thời gian, sẽ trở nên khô cứng; nhưng khi được kể bằng những câu chuyện, nó trở thành ký ức sống. “Thời hoa lửa” của dân tộc Việt Nam không chỉ là những năm tháng chiến tranh, mà là thời đại mà mỗi con người – dù là một cậu bé, một người lính hay một bậc chí sĩ già – đều mang trong mình tầm vóc của lịch sử. Những câu chuyện thời hoa lửa vì thế không chỉ để nhớ, mà để hiểu: hiểu vì sao một dân tộc nhỏ bé có thể đứng vững trước bão táp, và hiểu vì sao lòng yêu nước lại trở thành sức mạnh bền bỉ đến vậy. Để cảm nhận trọn vẹn điều ấy, không gì thuyết phục hơn chính những câu chuyện có thật – những câu chuyện mà mỗi chi tiết đều mang hơi thở của lịch sử.

Trước hết, thời hoa lửa hiện lên qua hình ảnh những con người rất đỗi bình thường nhưng đã sống một cuộc đời phi thường. Một trong những minh chứng tiêu biểu là câu chuyện về những “Vệ Út” của Trung đoàn Thủ đô – những thiếu niên bước vào chiến tranh khi tuổi đời còn quá nhỏ.
Chuyện một Vệ Út của Trung đoàn Thủ đô
Trong cuộc kháng chiến thần kỳ của quân dân Hà Nội 60 ngày đêm bám trụ từng đường phố, có một đội quân thiếu niên gần 100 em, làm nhiệm vụ trinh sát, giao thông liên lạc, quân báo… rất thông minh, dũng cảm, nên đến khi lên Việt Bắc, được các anh Trung đoàn Thủ đô gọi trìu mến là Vệ Út.

Trong cuộc kháng chiến thần kỳ của quân dân Hà Nội 60 ngày đêm bám trụ từng đường phố, có một đội quân thiếu niên gần 100 em, làm nhiệm vụ trinh sát, giao thông liên lạc, quân báo… rất thông minh, dũng cảm, nên đến khi lên Việt Bắc, được các anh Trung đoàn Thủ đô gọi trìu mến là Vệ Út. Ông Phùng Đệ, nguyên cán bộ của Xưởng phim Quân đội, là một trong những Vệ Út đó. Tiết cuối Thu se se lạnh, trong ngôi nhà ngõ 45 Phan Đình Phùng, “Người lính già đầu bạc” sống lại hồi ức “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, rồi trở thành người nghệ sĩ của quân đội trong hai cuộc kháng chiến.

Vệ Út chiến đấu trong Liên khu I - Hà Nội. Ông Phùng Đệ chào đời ở Trích Sài (nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội) năm 1933, nhưng cha mất sớm khi còn quá nhỏ, nên tuổi thơ ông sớm gắn với vùng đất bãi Phúc Tân, nơi bà cô ruột nuôi ông và cho học việc trong phố. Tháng 5 năm 1945, thêm một cái tang lớn ập xuống đời ông - Mẹ mất. Không còn cha mẹ, 12 tuổi, ông đã thấm thía thế nào là cuộc sống tủi phận, mồ côi, phải tự lập để sống. Chính trong những ngày đau thương ấy, người anh họ thường dạy ông đóng giày, đã giảng giải cho ông hiểu, vì sao mà người dân Việt Nam bị khổ nhục.20 giờ 3 phút ngày 19/12/1946, Hà Nội mở đầu toàn quốc kháng chiến. 22 giờ, máy bay Pháp thả pháo cháy xuống Phúc Tân, Long Biên. Cả bờ sông rừng rực lửa cháy. Nhiều gia đình chạy vào phố cổ và đình Phất Lộc lánh nạn. Giữa quang cảnh ấy, ông Phùng Đệ đã tìm cách trốn ở lại để “đánh giặc cho sướng”. Quang cảnh thật sinh động sáng 20/12 của mặt trận Hà Nội hiện lên qua lời ông kể: tôi trốn bà cô, vào ngõ Gia Ngư-chợ Hàng Bè. Tự vệ vẫn đang đắp ụ ở phía đầu Cầu Gỗ (trông ra quảng trường Đông Kinh Nghĩa thục bây giờ). Tôi nhảy luôn vào đào với các anh. Anh Khoái, trung đội trưởng, hỏi tôi:- Em ở đâu thế?- Em ở bãi Phúc Tân, bị lạc gia đình rồi. Anh cho em vào chiến đấu với các anh, làm gì em cũng làm. Sau buổi đào hào, đắp ụ, các anh báo cáo trường hợp của tôi lên cấp trên và được đồng ý. Tôi bắt đầu đời chiến sĩ liên lạc khi mới 13 tuổi như vậy đấy. Hôm sau, ông Vũ Lăng xuống trung đội, ân cần hỏi Phùng Đệ:-Em có biết nhà Thủy Lâm không?- Em có biết ạ.-Em đi quan sát tình hình địch, xem chúng bố trí trận địa, đặt súng ở đâu, rồi về báo cáo cho các anh biết. Hơn 70 năm đã qua, ông Đệ vẫn nhớ như in cảm giác khi đi trinh sát: Đêm tối, đường phố không còn điện, tối om. Tôi men qua Hàng Bè, Hàng Dầu, bò dần về phía nhà Thủy Lâm (nay là trụ sở Sở Văn hóa-Thông tin thành phố Hà Nội). Cổng nhà Thủy Lâm khóa chặt, tôi nhìn thấy bọn địch lố nhố trong sân, trên gác, ghi nhớ vị trí đặt súng của chúng, rồi bò về báo cáo lại. Xong nhiệm vụ, tôi thở phào. Sau đó, ông được các anh lớn tuổi tin cẩn, cùng với ông Phúc, là trinh sát của đại đội 15, có nhiệm vụ điều tra, nắm tình hình địch. Hàng ngày, cứ khoảng 6 giờ chiều, ông phải đến từng trung đội và các điểm chốt, giao khẩu lệnh bí mật của đại đội để tránh việt gian trà trộn. Ngày nào có khẩu lệnh riêng của ngày đó. Xung quanh Bờ Hồ, địch chiếm giữ hết các điểm: đền Ngọc Sơn, đền Bà Kiệu, nhà Thủy Lâm, Bưu Điện, nhà Gô- đa, khách sạn Phú Gia, trụ sở Hội Khai trí tiến đức (nay là Trung tâm biểu diễn nghệ thuật, ngã ba Hàng Trống-phố Lê Thái Tổ), nhà Bác ở (số 8 Vua Lê, nay là phố Lê Thái Tổ), nhà Thủy Tạ… Vậy mà đêm đêm, các chiến vẫn đột kích địch. Ngay ở quán Tân nghệ sĩ (nay là hiệu sách Bờ Hồ) có một hỏa điểm, ta giữ vị trí lợi hại này và chốt chặn cả dãy phố (nay là phố Đinh Tiên Hoàng từ hiệu sách Bờ Hồ đến nhà Hàm Cá mập).

Ông Phùng Đệ - một Vệ Út của Trung đoàn Thủ đô năm xưa .Ngày 25/12/1946, bộ khung của ba Tiểu đoàn 101, 102, 103 đã được tổ chức, và ông Đệ thuộc quân trinh sát, liên lạc của đại đội 15 thuộc Tiểu đoàn 103, làm luôn cả việc giao lệnh của Tiểu đoàn xuống cho ba đại đội 14, 15, 16. “Bây giờ kể lại, nghe nhẹ như không, nhưng hồi đó, tôi lọt qua các chốt cao điểm của nó, có khi cũng rợn tóc gáy chứ. Nó chiếm chốt cao nhất ở số 4 Hàng Dầu, kiểm soát đến tận Mã Mây. Ta và nó cách nhau, có khi là vài chúc mét, nhưng có khi chỉ một-hai con phố. Tôi tìm cách đi men theo các đường giao thông hào và ụ đất đắp cao, cũng phải tinh nhanh thì không bị dính đạn ngay”- ông nói. Ngoài nhiệm vụ chính như trên, ông còn làm các việc khác như đi tìm xem giếng nào còn nước? Rồi phục vụ luôn cả chị nuôi khi cần đưa cơm ra trận địa. Dân để lại cá khô, đường phèn hàng bao tải, mực khô, tôm khô… còn rất nhiều trong kho; nhưng thiếu nước, thiếu rau mới thật là khốn khổ. Tìm mãi mới thấy có một giếng ở Hàng Đào. Anh em phải dè sẻn từng gầu nước dùng cho sinh hoạt tối thiểu, tắm thì nhịn luôn. May là mùa đông nên cũng đỡ đôi chút. Dần dần, gạo cũng thiếu, ông lại đi tìm xem nhà dân nào còn gạo trong hũ, trong chum không, để nuôi nhau.Cuộc chiến đấu anh hùng, bảo vệ từng góc phố của quân dân Liên khu I hiện lên qua hồi ức Vệ Út Phùng Đệ năm xưa, nay là cựu chiến binh hơn 80 tuổi, thật sinh động, giúp chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sự khốc liệt của mặt trận Hà Nội ngay giữa trung tâm. Các Gavơ rốt của Hà Nội thông minh và dũng cảm vô cùng!…

Câu chuyện ấy không chỉ gây ấn tượng bởi sự khốc liệt của chiến tranh, mà còn bởi một sự thật: người tham gia chiến đấu khi ấy chỉ là những đứa trẻ. Một cậu bé 13 tuổi đã đi trinh sát giữa đêm tối, bò qua các vị trí địch, mang theo không chỉ nhiệm vụ mà cả sinh mạng mong manh của mình. Điều đó cho thấy: chiến tranh đã đặt con người vào những hoàn cảnh mà sự trưởng thành diễn ra trong chớp mắt. Và chính hoàn cảnh ấy đã tạo nên một thế hệ “lớn lên trong lửa”.

Nếu câu chuyện về Vệ Út cho thấy sức sống của tuổi trẻ, thì câu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng lại thể hiện chiều sâu của lòng yêu nước ở một con người đã đi gần trọn đời.
Bức điện cuối cùng – tấm lòng son với nước của người chí sĩ giữa cơn binh lửa

Vào năm 1947, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt, một người yêu nước già nua – người từng đảm nhận trọng trách Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam và Quyền Chủ tịch nước – đang lâm bệnh nặng tại Quảng Nam. Dù sức yếu, ông vẫn ngày đêm dõi theo tin chiến sự, lo cho vận nước như lo cho chính sinh mệnh của mình. Khi cảm nhận giờ phút cuối cùng đã đến, ông dặn thư ký gửi bức điện cuối cùng ra chiến khu Việt Bắc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lời nhắn “dẫu chết cũng không nản lòng, mong Chính phủ tiếp tục con đường kháng chiến đến thắng lợi”. Bức điện ấy, ngắn gọn mà chan chứa khí phách, trở thành biểu tượng của tinh thần trung liệt và lòng yêu nước vô bờ bến.

Tháng 3 năm 1947, khói lửa chiến tranh phủ dày trên bầu trời Trung Bộ. Trong một căn nhà nhỏ ở làng Thanh Bình, Quảng Nam, người chí sĩ lão thành đã gần tám mươi tuổi đang nằm trên chiếc giường tre cũ. Căn bệnh viêm phổi tái phát khiến hơi thở trở nên nặng nhọc, nhưng ánh mắt ông vẫn sáng rực như ngọn lửa chưa bao giờ tắt. Bên giường, mấy người học trò thân tín thay phiên chăm sóc, còn ông thì liên tục hỏi: “Tin từ Việt Bắc thế nào? Chính phủ có ổn không?”.

Từ ngày được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội giữ chức Quyền Chủ tịch nước trong thời gian Người sang Pháp đàm phán, ông đã dốc hết tâm huyết để duy trì đoàn kết quốc dân, kêu gọi nhân dân ủng hộ Chính phủ kháng chiến. Sau khi Người trở về, ông xin được rút về quê dưỡng bệnh, nhưng trái tim vẫn hướng về kháng chiến. Ngày nào cũng vậy, dù yếu đến mấy, ông vẫn ngồi dậy nghe tin tức, đọc lại các bản tuyên bố của Chính phủ và góp ý cho cán bộ địa phương.

Hôm ấy, khi nghe tin thực dân Pháp mở rộng chiến dịch đánh vào Nam Trung Bộ, ông cố ngồi dậy, nắm tay người thư ký và nói: “Phải gửi điện ngay cho Cụ Hồ, báo rằng tôi tuy sắp đi xa, nhưng lòng vẫn tin vào Chính phủ và cuộc kháng chiến của dân ta”. Người thư ký lặng người, run run viết theo lời ông đọc. Từng câu, từng chữ như được chắt ra từ hơi thở cuối:

“Tôi già yếu không qua khỏi, chỉ mong Chính phủ bền chí, đồng bào đoàn kết, kháng chiến tất thắng. Xin vĩnh biệt Cụ Chủ tịch và toàn thể đồng bào.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn