Những câu chuyện thời hoa lửa
"Mọi người kể những câu chuyện xưa đã trở thành huyền thoại
Và viết nên bao bài ca để ngàn năm hát mãi
Về người Mẹ Việt Nam anh hùng đã quên mình
Gạt đi nước mắt tiễn con lên đường..."
Trong thời bình, bom đạn chiến tranh chỉ còn hiện diện qua những trang sách, lời ca hay những thước phim tư liệu nhuốm màu thời gian. Thế nhưng, có một thời đại đã đi qua nhưng chưa bao giờ phai mờ trong ký ức dân tộc – đó là những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa, nơi hoài bão và ước mơ của tuổi trẻ tạm gửi lại vào lòng đất mẹ. Những người con ấy đã hóa thân vào dáng hình xứ sở, hòa máu xương vào núi sông muôn đời. Hôm nay, hãy cùng trở về với một “Thời hoa lửa” để nghiêng mình trước những linh hồn bất tử, mà trong đó, câu chuyện về liệt sĩ Lê Văn Huỳnh cùng lá thư từ Thành cổ Quảng Trị là một nốt trầm đau thương nhưng vô cùng oanh liệt.
Đọc những dòng thư ấy, ta mới thấu hiểu tận cùng cái gọi là sự “khốc liệt” của chiến tranh. Tại sao một thế hệ vàng son, dù biết trước ngày mình sẽ ngã xuống, vẫn quyết dấn thân không một bước lùi? Phải chăng, chính tình yêu Tổ quốc nồng nàn và khát vọng hòa bình đã lớn hơn cả nỗi sợ cái chết? Năm 1972 khốc liệt, đất nước đã mất đi một lớp tinh hoa – những chàng trai, cô gái mười tám đôi mươi tạm gác bút nghiên để cầm súng ra trận. Họ chính là mùa xuân đã nằm xuống để đổi lấy mùa xuân vĩnh cửu cho dân tộc.
Đến bây giờ, lời thoại trong bộ phim “Mùi cỏ cháy” vẫn khiến bao người thổn thức: “Mùa hè năm ấy, hy sinh nhiều quá, toàn là lính trẻ…”. Những người lính trẻ ấy là con, là chồng, là người yêu của một ai đó. Người ta nói rằng: “Khi viên đạn xuyên vào một người lính, dù thuộc bên nào đi nữa, nó đã thực sự xuyên vào trái tim người Mẹ”. Lá thư liệt sĩ Lê Văn Huỳnh gửi về cho mẹ và vợ trước ngày hy sinh chính là lời trăng trối sau cùng, đẫm lệ nhưng tràn đầy khí phách.
“Quảng Trị, ngày 11-9-1972”
“Toàn gia đình kính thương!
Hôm nay con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng, phòng khi đã “đi nghiên cứu bí mật lòng đất” thì gia đình không thấy đó là điều đột ngột.
Mẹ kính mến! Thư này tới mẹ là con đã đi xa rồi. Chắc mẹ đau buồn lắm. Lớn lên trong vòng tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa kịp báo đáp công ơn sinh thành to lớn đó, thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm bố con rồi... Lòng mang nặng đẻ đau, giọt máu đào hơn ao nước lã, lá vàng còn ở trên cây mà lá xanh rụng xuống. Trời ơi hỡi trời... con của mẹ đã đi xa, để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời.
Con rất hiểu đời mẹ đã khổ nhiều, nay bao kỳ vọng nuôi con lớn khôn, song vì đất nước có chiến tranh, thì mẹ ơi, hãy lau nước mắt cho đời trẻ, hãy sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũng ở bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con thoải mái bay đi... Thôi nhé mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau.
Em yêu thương! Mọi lá thư đến với em đều là nguồn động viên khi xa anh. Song, lá thư này đến tay em sẽ là nỗi buồn lớn nhất... Chúng ta sống với nhau chưa được bao lâu, chiến tranh đã cướp đi của em biết bao yêu thương, trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều, còn em chưa được hưởng diễm phúc ấy đã phải xa anh...
Sau này hòa bình lập lại, nếu có điều kiện vào Nam, hãy mang hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông vào ngày 2-1-1973. Từ thị xã qua cầu, ngược trở lại, hỏi thăm thôn Nhan Biều. Em cứ đi đến đó tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Đến đó sẽ tìm thấy tấm bia ghi tên anh đục trên mảnh tôn. Mộ anh ở đó...
Thôi nhé, mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau.”
Dù đứng trước ranh giới mong manh giữa sinh và tử, anh vẫn xem cái chết nhẹ nhàng như một chuyến phiêu lưu: “đi nghiên cứu bí mật lòng đất”. Có lẽ trong những năm tháng hào hùng đó, sự hy sinh là điều bình thản nhất trong tâm khảm người chiến sĩ, bởi họ thà ngã xuống để bảo vệ độc lập còn hơn sống kiếp nô lệ.
Ẩn sau 10 trang thư hoen ố màu thời gian là những lời dự cảm chính xác đến kỳ lạ về ngày mình ra đi, là tình mẫu tử thiêng liêng, nghĩa vợ chồng sâu nặng và lý tưởng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” không một chút đắn đo. Bức thư ấy là thông điệp xuyên thời đại, là sợi dây kết nối thế hệ hôm nay với dòng chảy lịch sử hào hùng. Nó nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình chưa bao giờ là điều dễ dàng, mà phải đánh đổi bằng đại dương nước mắt của những người mẹ, bằng máu xương của cha ông và sự chia lìa của biết bao gia đình.
Lá thư thiêng từ Thành cổ Quảng Trị vẫn mãi là lời nhắn nhủ thế hệ mai sau hãy sống đẹp, sống có lý tưởng và trân trọng giá trị của độc lập hôm nay.



