Những câu chuyện thời hoa lửa (95)
Những buổi trưa hè oi ả với cái nóng 35 độ, tưởng như có thể nung chảy bất cứ cái lá ngọn cỏ nào ven đường, mặt đất phả lên thứ hơi hầm hập nên con đường làng vào giữa trưa bỗng vắng đến kì lạ. Tôi nằm trong nhà trên chiếc võng đu đưa, bên cạnh là ông nội đang phe phẩy cái quạt được làm từ lá cọ, kể cho tôi nghe những câu chuyện thời trẻ của ông.
Ông nội tôi là một người lính đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ trong những năm 1975, chiến đấu ở chiến trường nam bộ. Ông kể cho tôi nghe về những ngày đầu nhập ngũ, khi ấy ông còn rất trẻ, một chàng thanh niên tên Hùng 19 tuổi lần đầu xa gia đình, hành quân từ thái nguyên đi bộ xuyên rừng núi, trên vai là hàng chục cân hành lý cùng vũ khí nặng, ấy vậy mà chỉ với một đôi giày rằn ri mòn đế đã đưa ông cùng đồng đội vượt qua nào muỗi rừng, nào rắn độc, nào là những cơn sốt rét đến tái xanh cả làn da, đến những lúc đói run người tưởng chừng như không thể chống cự. Tôi ngơ ngác đưa đôi mắt hỏi ông:“ ông ơi vậy sao ông không về nhà ạ”. Ông xoa vầng trán tôi, cười nhẹ:“ông mà quay đầu thì ông là một nỗi thẹn của tổ quốc con ạ. Kể cả có phải chết thì cũng xin chết vì đất nước.” Tôi khi ấy chưa thực sự hiểu, nhưng đi đâu tôi cũng khoe ông tôi là bộ đội cụ Hồ. Ông có dáng người cao cao, hơi gầy và còng lưng, khuôn mặt hiền hậu với đôi mắt luôn ánh lên mỗi khi nhìn. Tôi thấy ông ho nhiều từng ngày, sức khoẻ cũng kém dần đi mà ngày nào cũng chơi với mấy đứa tôi, cõng nhỏ em tôi đi cùng làng cả. Ông có trò cút càng hay lắm, cho cháu ngồi lên chân rồi nhấc bổng lên trời khi ông nằm. Những lúc ấy tôi lại mân mê nghịch cái lỗ ở chân ông. Bạn không nghe nhầm đâu, chân ông tôi thực sự có một cái lỗ xuyên thẳng từ lòng bàn chân lên đến ngón chân cái. Tôi đã khóc oà lên khi lần đầu nghe ông kể, ông bảo đây là chiến tích của một trận chiến khốc liệt, lúc pháo binh, tên lửa và đạn súng của quân thù trút xuống như mưa, xung quanh khói mờ đặc như trận cuồng phong, ông cùng đồng đội vẫn băng băng vận chuyển đạn và pháo cho trận địa, nhưng rồi một mảnh sắt dài gần một găng tay đã đâm xuyên qua bàn chân ông, ông gục xuống đau đớn khi máu ở chân không ngừng rỉ ra, làm ướt đẫm cả một vũng cỏ cháy. Không suy nghĩ nhiều, ông đẩy đồng đội ra bảo họ đi trước đi cho kịp, phần mình ông xé một mảnh áo, túm lấy một nắm cỏ nhét thật chặt vào miệng và 1…2…3 ông lấy hết sức bình sinh giật mạnh mảnh sắt ra, băng lại bằng mảnh vải áo. Mặt tôi thực sự tái xanh lại vì sợ, nghe như trong phim siêu anh hùng mình từng xem vậy. Như không hề có chuyện gì, ông vẫn lao vào trận địa chiến đấu cùng đồng đội để dành lại chiến thắng cho quân ta. Trong tâm thế sẵn sàng hy sinh bất cứ lúc nào, ông bảo đó chỉ là một nỗi đau rất nhỏ so với nỗi đau mất nước, chân ông sau đó đã được sơ cứu nhưng vẫn không thể lành lại hoàn toàn do đã bị nhiễm trùng vì để vết thương quá lâu, giờ đây trở thành dấu ấn như vậy. Sau câu chuyện ấy tôi cứ ngỡ ông tôi là “super men”, được thiên thần gửi xuống trần gian để bảo vệ gia đình vậy. Nội có nhiều huân chương lắm, ông cất gọn trong một chiếc hộp gỗ được sơn màu đỏ sậm, trông có vẻ cũ kĩ, mỗi lần ông bỏ ra lau chùi là tôi lại được một lần chiêm ngưỡng chiến tích của ông.
Cứ vậy ngày qua ngày, tôi lớn lên trong tình yêu thương của ông bà, đem theo những câu chuyện hào hùng của một trang sử rực cháy trong tim, luôn tự hào vì mình là một người con Việt Nam, tự hào vô cùng khi có ông là người chiến sĩ cách mạng. Ông tôi cũng đã mất được 4 năm, kể từ ngày phát hiện ra căn bệnh lao phổi do khí độc của thời chiến. Những trang giấy này cũng được tôi viết nên bởi kỉ niệm, một quãng tuổi thơ đẹp nhất với ông, cảm ơn ông vì đã là một tấm gương sáng về tình yêu tổ quốc, về trách nhiệm để con luôn nhắc nhở bản thân trên con đường đời sau này.



