Bài viết

NHỮNG CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA: Chuyện một người anh hùng.

Gia Lai04/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đơn vị: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Quy Nhơn

Với Anh hùng LLVT nhân dân Lê Hữu Trạc, ký ức một thời trên đất lửa sẽ mãi không bao giờ quên. Sự khốc liệt của chiến tranh đã cướp đi đôi mắt của người lính kiên cường, thế nhưng với ông, “giặc Mỹ có thể lấy đi ánh sáng mặt trời, nhưng ánh sáng chân lý sẽ mãi không bao giờ tắt”, 85 tuổi, gần 60 năm “nhìn đời” bằng đôi mắt giả, nhưng trái tim người lính Cụ Hồ vẫn luôn ấm áp để làm điểm tựa giữa đời thường.

Anh hùng Lực lượng vũ trang - Lê Hữu Trạc

1.000 ngày giữ đảo

Như những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi cùng thế hệ, năm 1962, chàng thanh niên Lê Hữu Trạc nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341 đóng quân ở Vĩnh Linh, Quảng Trị với nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến.

Năm 1965, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, đảo Cồn Cỏ, được mệnh danh là “mắt thần” của miền Bắc trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ. Để bảo vệ “mắt thần”, Đại đội Lê Hồng Phong được lệnh cử một trung đội ra Cồn Cỏ.

“Lúc này, hàng ngày các tàu khu trục, tàu tuần dương bao vây đảo và trên đầu là máy bay quần thảo, nhiệm vụ rất gian khổ và hiểm nguy nhưng ai cũng mong được ra Cồn Cỏ. Để “cạnh tranh” cùng các đơn vị khác, tôi là Trung đội phó, Bí thư chi bộ đã họp tổ Đảng và trình bày sáng kiến cạo trọc đầu để tiết kiệm tối đa nước ngọt gội đầu khi ra đảo. Với lòng quyết tâm và sáng kiến đó, trung đội “cạo trọc” của chúng tôi đã được chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong lựa chọn ra giữ đảo Cồn Cỏ”, ông Trạc nhớ lại.

Và đêm mùa hè tháng 7/1965, giữa muôn trùng sóng gió và sự bao vây của máy bay, tàu chiến địch, Trung đội 3 vượt 17 hải lý và đặt chân lên đảo tiền tiêu. Gần 1.000 ngày giữ đảo, ông không thể nhớ hết có bao nhiêu trận bom, bao nhiêu cuộc chiến. Dưới mưa bom bão đạn, hòn đảo có khi không còn một bóng cây, mặt đất bị cày đi xới lại. Vừa chiến đấu, ông và đồng đội vừa đào công sự, hầm hào. Có những thời điểm ác liệt, tiếp tế nhu yếu phẩm từ đất liền gián đoạn, họ phải sống cầm hơi, chặt chuối rừng vắt nước uống. Người lính này hy sinh, người lính khác xông lên thay thế. Nhiều đồng đội của ông đã ngã xuống và thân xác mãi nằm lại trên đảo.

“Sau này, tôi nghe lịch sử thống kê lại từ năm 1964-1968, có trên 1,3 vạn quả bom và hàng vạn quả rốc két ném xuống Cồn Cỏ; 172 lần tàu chiến bắn trên 4 nghìn quả đạn pháo lên đảo. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sĩ hứng chịu gần 40 tấn bom đạn và mỗi ha đất là 22,6 tấn. Còn lúc đó, chúng tôi chỉ biết ngày nào cũng bom rơi đạn nổ. Cồn Cỏ vô cùng ác liệt, nhưng phía sau chúng tôi có cán bộ, nhân dân Vĩnh Linh anh hùng, tình nghĩa sẵn sàng xung phong tiếp tế cho đảo. Tôi nhớ cụ Thục, tuổi ngoài 60, là “chuyên gia” theo dõi thời tiết. Mọi chuyến tiếp tế ra đảo hay đưa thương binh vào đất liền nhờ cụ mà “thuận buồm xuôi gió”, Cồn Cỏ nhờ đó mà vững vàng đến ngày chiến thắng!”, ông Trạc bồi hồi kể lại.

Mùa xuân năm 1968, ông được điều động vào đất liền, chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong với mục tiêu chặn đứng đường tiếp viện của địch lên chiến trường Khe Sanh. Đánh chặn tàu địch ở Cửa Việt, đánh sập cầu Bến Ngự, tiêu diệt đại đội thủy quân lục chiến, bắt sống trung úy Mỹ…, những sự kiện vang dội được ông kể lại một cách giản dị. Tháng 8/1968, khi là Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, E270, Quân khu 4, trong một chuyến trinh sát trận địa ở phía Tây Vĩnh Linh để chống địch đổ bộ bằng đường không, ông bị vướng bom nổ chậm, chiến sĩ liên lạc đi cùng hy sinh tại chỗ còn ông bị hất tung và vỡ nhãn cầu cả 2 mắt...

Điểm tựa giữa đời thường

Thương tích quá nặng, dũng sĩ Lê Hữu Trạc được đưa ra tuyến sau điều trị. 2 mắt bị hỏng, ông phải lắp mắt giả. Vĩnh viễn không thể trở lại chỉ huy chiến trường khi chỉ vừa 28 tuổi, nỗi buồn canh cánh trong lòng ông. Nhưng may mắn trong những ngày ở Trại an dưỡng Ba Vì, ông gặp cô gái quê Hà Tây Kim Thị Mão, vì cảm phục và yêu quý chàng trai Quảng Bình anh hùng, chất phác nên đã nhận lời yêu và làm vợ người thương binh “tàn nhưng không phế”. Năm 1972, cô gái Hà Tây dắt ông trở lại quê nhà Xuân Ninh và sống cuộc đời bình dị.

Phần lớn hồi ức của cựu binh Lê Hữu Trạc là về đồng đội. Đó là những câu chuyện về Đảo trưởng Trần Văn Thà, thủ trưởng của hàng chục người lính được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND; là anh hùng Thái Văn A, Trần Văn Mật, là Đỗ Như Đệ, người liên lạc đã hy sinh trong chuyến trinh sát cùng ông… “Danh hiệu anh hùng của tôi được tô thắm bằng máu của đồng đội”, ông chia sẻ.

Tri ân và nhớ thương đồng đội, tự hào về quá khứ, tin tưởng ở tương lai, ông tỏa ra thứ năng lượng ấm áp, thiện lương và chân thành. Nghe ông kể chuyện, nỗi xúc động, tự hào về quá khứ của quê hương, của các thế hệ cha anh, cứ trào lên… Cuộc đời bi tráng và giản dị của Anh hùng LLVTND Lê Hữu Trạc và những đồng đội của ông, như câu thơ của nhà thơ Hồng Thanh Quang, chính là điểm tựa cho thế hệ hậu sinh không bị lạc lối giữa những cám dỗ đời thường.

Người Anh hùng của nhân dân

Sau những chiến công cùng Đại đội Lê Hồng Phong, đến tháng 5/1968, ông Trạc được giao giữ chức Tham Mưu trưởng Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 270, Đặc khu Vĩnh Linh.

Vào những tháng cuối năm 1968, địch lên kế hoạch âm mưu đổ bộ ra miền Bắc, trách nhiệm của đơn vị Lê Hữu Trạc càng nặng nề hơn. Nắm được thông tin địch muốn đánh phá khu phòng thủ tên lửa Vĩnh Linh, ông Trạc cùng đồng đội đã trực tiếp đi khảo sát trận địa. Tại đây, ông cùng một chiến sỹ liên lạc bị trúng bom từ trường, chiến sỹ liên lạc hi sinh, riêng ông Trạc bị đánh bay gần 50m và bị mất đi 2 đôi mắt. Thời kỳ đầu phải xa đồng đội lui về hậu phương, Lê Hữu Trạc mang trong mình nhiều cảm xúc. Giữa lúc bản thân phải đối diện với bóng tối, xa đồng đội, Lê Hữu Trạc đã tự làm thơ động viên mình:

“Ai đo được cây cao nhất trên rừng cao bao nhiêu mét?/ Ai cân được con cá lớn nhất dưới biển nặng mấy ngàn cân?/ Ai biết được lòng tôi thường suy nghĩ phân vân? Nhưng tôi rất đỗi tự hào và vững một niềm tin tất thắng”.

Mặc dù bom đạn đã lấy đi đôi mắt của Lê Hữu Trạc, nhưng niềm tin tất thắng, ngọn lửa yêu nước vẫn mãi cháy đỏ trong tim ông. “Giặc Mỹ có thể cướp đi ánh sáng thiên nhiên, nhưng ánh sáng chân lý sẽ mãi không bao giờ tắt”, Lê Hữu Trạc nói.

Sau khi bị thương, ông Lê Hữu Trạc được đưa ra Bắc điều trị, sau đó an dưỡng tại Ba Vì (Hà Tây cũ). Tại đây, ông đã gặp bà Kim Thị Mão và họ nên duyên vợ chồng.

Năm 1972, bà Mão quyết định về quê chồng ở Quảng Bình an cư và lập nghiệp. Năm 1973, niềm vui vỡ òa trong căn nhà nhỏ của họ ở thôn Xuân Ninh khi chị Mão sinh con trai đầu lòng. Với ý chí và nghị lực của người lính, Lê Hữu Trạc luôn là người trụ cột chèo lái gia đình vượt qua nhiều khó khăn thử thách của cuộc sống. Họ tiếp tục nhận tin vui khi 2 người con 1 gái, 1 trai lần lượt ra đời.

Ông Lê Hữu Trạc trong lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Trong quá trình chiến đấu và công tác của mình, Trung úy, Đại đội trưởng Lê Hữu Trạc được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì,1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 1 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Trở về từ chiến trường, đến nay với gần 55 tuổi Đảng, 77 tuổi đời, hàng ngày Anh hùng Lê Hữu Trạc vẫn kể chuyện về đảo Cồn Cỏ, về Quảng Trị, về những người đồng đội yêu nước cho con cháu và thế hệ trẻ noi gương, học tập.

Mới đây, Chủ tịch nước đã có Quyết định số 621/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho ông Lê Hữu Trạc, ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc của trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Một người bạn cũng là đồng đội của ông Lê Hữu Trạc đến chúc mừng sau khi ông Trạc vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn