Những câu chuyện về những chiến sĩ công binh âm thầm cống hiến cả tuổi thanh xuân để mở đường
Những câu chuyện về những chiến sĩ công binh âm thầm cống hiến cả tuổi thanh xuân để mở đường
“Có những con người đã phải đi qua chiến tranh như một ngọn lửa âm thầm, không ồn ào rực rỡ, nhưng cháy bền bỉ suốt cả một cuộc đời chỉ để bảo vệ nền độc lập tự do, hòa bình như hôm nay cho chúng ta. Đó cũng chính là câu nói mà ông ngoại em đã nói, bởi ông em là cựu thanh niên xung phong. Ông ngoại em tên là Tạ Quốc Lựu, ông sinh ra và lớn lên ở xã Thái Xuyên - huyện Thái Thụy - tỉnh Thái Bình nay là Xã Đông Thái Ninh - tỉnh Thái Bình. Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm 1945.
Tuổi thơ của ông ngoại em tuy sống ở làng quê nghèo, nhưng ngay từ khi còn nhỏ, ông em đã có một ý chí kiên cường, lòng yêu nước mạnh liệt, ông luôn muốn đất nước được hòa bình, được tự do, khi đất nước còn chìm trong khói lửa của chiến tranh tiếng gọi non sông vang lên tha thiết hơn bất cứ thứ gì. Ông đã quyết định đi vào con đường nhập ngũ với ước mơ “có thể giúp giữ được sự hòa bình, độc lập, tự do, quê hương đất nước”.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, giữa đại ngàn Trường Sơn trùng điệp, có những người lính công binh ầm thầm làm nhiệm vụ mở đường cho đoàn quân ra mặt trận. Họ không trực tiếp cầm súng ra chiến trường, nhưng con đường họ mở ra lại chính là con đường dẫn tới chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam.
Ông em là một chiến sĩ công binh trẻ tuổi, ngày ngày cùng với các đồng đội vác cuốc xẻng, thuốc nổ băng rừng, vượt suối, san núi, phá đá trải qua bao nhiêu khó khăn nguy hiểm cùng nhau mở đường, con đường Trường Sơn nay đổi lại là con đường Hồ Chí Minh. Bom đạn của kẻ thù luôn rình rập ở khắp nơi, có lúc vừa làm xong thì máy bay của địch lại tới phá hủy, nhưng ông và các đồng đội không hề nản lòng. Đêm đêm dưới ánh trăng mờ ông và đồng đội lại nặng lẽ ra sửa đường, nối lại những đoạn bị cắt đứt đoạn bởi bom đạn của kẻ thù.
Ông kể lại có lần một quả bom nổ chậm nằm ngang giữa tuyến đường huyết mạch. Nếu không phá được, đoàn xe chi viện sẽ không thể đi qua. Ông em đã xung phong tiếp cận, tháo gỡ trong tình thế vô cùng nguy hiểm. khi con đường an toàn trở lại, đoàn xe nối đuôi nhau vượt con đường Trường Sơn mang theo lương thực, vuc khí ra tiền tuyến. Ông chỉ mỉm cười cùng những người đồng đội, lau khô mồ hôi và tiếp tục công việc của mình. Vào đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì quân ta dành thắng lợi, mọi người đều vui mừng ôm chầm lấy nhau vì sau nhiều năm kháng chiến cuối cùng cũng dành được thắng lợi. Ông ngoại em đã rất vui mừng, ông và các đồng đội đều đồng thanh hô vang to một câu “Hòa bình đến rồi:” như lời khẳng định tuyệt đối về chiến thắng huy hoàng của dân tộc ta.
Sau khi đất nước dần ổn định, ông em đã được trao tặng huy chương kháng chiến hạng nhất vào năm 1985 và nhiều năm sau đó ông em vẫn được trao tặng một số huân, huy chương kháng chiến khác. Những phần thưởng được nhà nước trao tặng cho ông là những minh chứng cho một đời tận hiến của một người chiến sĩ đã góp một phần tuổi thanh xuân và sức khỏe của mình cho chiến thắng ngày nay của tổ quốc.
- Huân chương kháng chiến hạng nhất năm 1985
- Huân chương kháng chiến vẻ vang hạng ba năm 1990 và nhiều các huân chương khác .
Tuy giờ đây ông đã mất, hưởng thọ được 81 tuổi nhưng ông vẫn sẽ là một niềm tự hào lớn nhất của cuộc đời em. Những câu chuyện về những chiến sĩ công binh âm thầm cống hiến cả tuổi thanh xuân để mở đường và tinh thần đoàn kết của ông và đồng đội sẽ mãi là tấm gương soi sáng để những người con, người cháu sống trên mảnh đất quê hương đất nước Việt Nam như chúng em noi theo.


