Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Những chặng đường lịch sử của Tiểu đoàn 10 (K10) Tỉnh đội Thừa Thiên

Hà Nội02/10/2026Nguyễn Viết Nam (xã Thuận An)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ CỦA TIỂU ĐOÀN 10 (K10) TỈNH ĐỘI THỪA THIÊN

Sau thắng lợi của cuộc đồng khởi khắp nông thôn và đồng bằng năm 1964 và đầu năm 1965, phong trào đấu tranh cách mạng tỉnh Thừa Thiên chuyền từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang đã đưa chiến tranh nhân dân phát triển lên một bước mới. Trước hết Tỉnh uỷ chăm lo củng cô nòng cốt chiến tranh nhân dân địa phương là lực lượng vũ trang Thừa Thiên Huế, với sự đồng ý của Khu uỷ Trị Thiên và Trung ương đã quyết định xây dựng lực lượng vũ trang chính quy. Tiểu đoàn 10 (K10) và một số đơn vị trực thuộc được thành lập. Trong một thời gian ngắn, K10 đã phối hợp cùng các huyện Quảng Điền, Phú Vang, Hương Thuỷ, Phú Lộc... giải phóng nhiều làng xã. Cuối năm 1966, nhiều Trung đoàn bộ binh ở Quân khu Trị Thiên được thành lập với mật danh là Công trường (còn có tên gọi là Đoàn).

Công trường 4 phụ trách đánh địch ở Phú Lộc, Phú Vang.

Công trường 6 phụ trách đánh địch và phát động nhân dân bảo vệ làng xã ở 2 huyện Phong Điền và Quảng Điền.

Công trường 5 gồm 3 Tiểu đoàn là K4, K10 và K32. Ban chỉ huy Trung đoàn có ông Thân Trọng Một là Đoàn trưởng, ông Nguyễn Vạn là Chính ủy. Biên chế Đoàn 5 ngoài 3 tiểu đoàn bộ binh còn có tiểu đoàn đặc công, các đại đội công binh, trinh sát. Cơ quan Trung đoàn bộ và K4 đóng ở phía nam Đường 12, trên đất Hương Thuỷ. Phía bắc Đường 12, địa phận Hương Trà là khu vực hoạt động của K10.

Tháng 3/1966, Tiểu đoàn 10 về bám trụ ở 3 xã Quảng Ninh, Quảng Hoà và Quảng Đại (huyện Quảng Điền) cùng với Đội công tác đánh địch ở Nghĩa Lộ, Lai Hà; phát động quân chúng, xây dựng cơ sở cách mạng theo chỉ đạo của tỉnh là “Mở rộng vùng giải phóng, đưa chiến tranh cách mạng vào vùng ven, tác động vào phong trào cách mạng nội thành”.

Tháng 4/1967 tại làng Bao La xã Quảng Hà (nay là xã Quảng Phú) K10 cùng với C144 vũ trang huyện Quảng Điền đánh Tiểu đoàn Trâu điên, tiêu diệt hơn 1 đại đội địch. Tháng 12/1967, tập kích tiêu diệt 1 đại đội Địa phương quân tại chợ Tây Ba, xã Quảng Đại (nay là xã Quảng An).

Trong cuộc Tổng tấn công nổi dậy Xuân 1968, K10 đánh chiếm khu phố Gia Hội và chặn đánh Tiểu đoàn l1, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 3 ngụy ở Đồng Di và Tam Đông tham gia giữ Huế 26 ngày đêm, chặn Mỹ ở quán cơm Âm Phủ, diệt tàu địch trên sông Hương, đánh chống càn phá vây ở Dưỡng Mông.... Trong chiến dịch Xuân 1968, Trung đoàn 5 trong đó có K10 bị tổn thất nặng nề. Khi có lệnh rút lên rừng, mỗi đại đội còn vài ba chục tay súng. Một số hy sinh, bị thương, bị sốt rét, lui về tuyến Sau còn phân đông ngã xuống trong những trận đánh địch ở vùng sâu Phú Vang, Quảng Điền, Hương Trà, Hương Thuỷ... Các tiêu đoàn của Trung đoàn 5 gân như mắt sức chiến đấu. Song nhiệm vụ Trung đoàn giao cho là: “Bộ đội K10 dù có phải thành vượn, thành ruộc vẫn phải trụ bám giáp ranh Hương Trà, để giữ con đường huyết mạch về đồng bằng Huế”, là chỗ dựa cho địa phương đánh địch, xây dựng cơ sở.

Sau Mậu Thân 1968, các đơn vị chủ lực của Quân khu như Sư 324, 325... phải rút lên rừng chống trả các sư đoàn quân Mỹ lên càn. Bộ đội K10, K4 có nhiệm vụ giữ giáp ranh trong khi không có gạo, muối, thực phẩm. Quan trọng hơn là thiếu vũ khí đạn dược, thuốc men, quân trang, nhu yếu phẩm thiết yếu hàng ngày. Hậu cần tuyến trên không chuyển về được và ở vùng địch hậu chuyển lên lại càng khó khăn.

Trong khi các sư đoàn thiện chiến của Mỹ như Sư đoàn Kỵ binh bay, Sư dù, Sư đoàn 1 của ngụy mở những cuộc phản kích quyết liệt Quân giải phóng ở miền núi và vùng giáp ranh. Lính ngụy có trực thăng yểm trợ đổ quân càn quét. Chúng xây dựng các căn cứ Hòn Vượn, Điểm cao 360, 367, Chóp Nón... án ngữ cửa rừng các huyện vùng ven đô Huế không cho bộ đội về làng bám dân. Ở các làng đồng bằng, địch đưa Bảo an, Dân vệ triệt phá các cơ sở cách mạng. Nhiều cơ sở mật ở Huế bị địch bắt, đưa vào tù ở nhà lao Thừa Phủ, ở Phú Bài, một số bị đưa ra Phú Quốc, Côn Đảo.

K10 đứng chân trên địa bàn Hương Trà. Trong đó C1 đóng ở Hương Mai, C3 giữ ở giáp ranh Hương Thạnh, Hương Thái. C2 làm nhiệm vụ cùi cõng gạo đạn cho tuyến trước, C4 hoả lực cùng Tiểu đoàn bộ ở Địa đạo bên sông Bồ.

Ban chỉ huy Tiểu đoàn ở vào thời điểm đó là ông Lê Bậu, D trưởng (người Thanh Lương, Hương Trà). Ông Duy (người Thanh Hoá) là Chính trị viên, ông Nhàn (người Nam Định) là D phó, ông Hoàng Ngọc Ngạn (người Nghệ An) là Chính trị viên phó Tiểu đoàn. Các ông đều là lính nghĩa vụ vào Nam từ 1963, trưởng thành từ K10, có nhiều chiến công và kinh nghiệm trực tiếp tham gia đánh nhiều trận ở đồng bằng trong các chiến dịch giải phóng Phong Quảng Điền, Phú Vang và trong cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968.

Cuối năm 1968, K10 được bổ sung quân chủ yếu là người Thái Bình, Hải Hưng. Sau khi nhận tân binh ở dốc Cao Bồi, Tiểu đoàn hành quân về khu vực Địa đạo bên sông Bồ. Tiểu đoàn bộ và C4 ở khu vực Địa đạo. C1 ở Hương Mai, C3 về giáp ranh Hương Thạnh, Hương Thái. C2 làm nhiệm vụ cùi cõng gạo trên Hang Đá, sông Bồ.

Các C1 và C3 ở giáp ranh phải tự túc một phần lương thực, thực phẩm. Các đơn vị tổ chức cùng du kích địa phương đêm đêm đi về làng mua gạo, thực phẩm rất khó khăn và phải tổ chức chu đáo như một trận đánh. Bộ đội bám địch từ 2 giờ chiều ngoài vùng đồi trọc. Nếu không bị địch chốt cửa rừng, 4 giờ chiều bộ đội ra vùng đồi trọc giáp ranh chờ đêm xuống ra khỏi rừng. Hành quân tới 9 giờ đêm mới tới được làng. Hôm nào qua Quốc lộ 1 về vùng sâu còn đi xa hơn. Nhiều đêm về làng gặp địch là nổ súng đánh nhau. Các trận đánh của K10 ở vùng ven đô Huế luôn diễn ra ở các thôn Văn Xá, Bồn Trì, Bồn Phổ, Phú Ổ, Liễu Thượng, Liễu Nam, Văn Xá Làng. Có lần về chợ La Chữ bị địch gài mìn, phục kích hy sinh 21 người cả bộ đội và cán bộ du kích người địa phương.

Năm 1969 và năm 1970, K10 ở giáp ranh Hương Trà là thời kỳ khó khăn, ác liệt nhất. Có khi vài ba tháng địch chốt cửa rừng bộ đội không về được làng mua gạo và muối. Bộ đội phải ăn môn vót, môn thục thay cơm. Quân số K10 bị tiêu hao sau mỗi trận đánh. Sức khoẻ của bộ đội bị giảm sút, ai cũng bị sốt rét.

Trong hoàn cảnh đó, bộ đội K10 được lệnh phải giữ vững vùng giáp ranh. Liên lạc với cấp trên bị gián đoạn, lực lượng cán bộ huyện xã bị thiếu hụt. Trong tình hình đó, Ban chỉ huy K10 vẫn quyết định tổ chức một trận đánh lớn bằng hoả lực vào căn cứ Từ Hạ. Đây là căn cứ lớn của Mỹ Ngụy, có sân bay trực thăng, có xe tăng và lính bộ binh bảo vệ, cách Huế 17 km. Đề đánh trận bằng hoả lực này, K10 đã tập trung 2 khẩu đội cối 82, 14 khẩu B41 và B40. Vào lúc 10 giờ đêm ngày 3/9/1969 hàng trăm trái cối 82 và đạn B41, B40 đã trút vào căn cứ Từ Hạ. Kết quả nhiều trực thăng, xe tăng, xe bọc thép bị phá huỷ và nhiều lính ngụy thiệt mạng, gây cho địch hoang mang, khiếp sợ.

Chỉ vài ngày Sau, để trả thù Quân giải phóng địch tung một trung đoàn ngụy và một tiêu đoàn lính Mỹ lên càn giáp ranh và vùng núi Hương Trà. Máy bay B52, B57 ném bom vào các cánh rừng nghi là hậu cứ của bộ đội. Các đơn vị lính bộ binh của quân Mỹ, quân ngụy đi càn rừng, đốt phá hậu cứ của bộ đội K10 và địa phương. Địch chốt chặt cửa rừng không cho bộ đội, du kích về làng mua gạo, thực phẩm...

Đầu tháng 3/1970, Tỉnh đội Thừa Thiên được tăng cường gần 200 chiến sỹ là những người lính ở Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hoá và một số là người địa phương. K10 cũng được bổ sung một số chiến sỹ. Tuy nhiên lực lượng này cũng rất mỏng.

Vào cuối năm 1970, quân số của K10 thiếu hụt. Mỗi đại đội còn vài ba chục tay súng, một số ốm, sốt rét, mất sức chiến đấu. Trước khó khăn đó, tỉnh Thừa Thiên buộc phải giải tán K10. Số anh em bộ đội ngoài bắc của K10 được đưa về các huyện bổ sung làm biệt động, du kích, cán bộ xã... Về địa phương, mỗi đêm xuống các xã bám dân, gặp địch nổ súng, nhiều anh em bộ đội hy sinh. Người hy sinh dưới đồng bằng, được chôn trong những cánh ruộng của làng Hương Thạnh, Hương Mai, Bồn Trì, Phú Ổ... Người hy sinh trên rừng được chôn trong những ngôi mộ được dấu kín dưới tán cây rừng, ẩn khuất trong các bụi sim mua vùng giáp ranh bắc Huế.

Vào tháng 10/1971, Quân khu và tỉnh Thừa Thiên có quyết định cho thành lập lại K10. Một đoàn cán bộ khung hơn 30 người từ trung đội trưởng tới cấp tiểu đoàn do ông Hoàng Minh Nhất, Tiểu đoàn trưởng và ông Hoàng Ngọc Ngạn (người Đô Lương - Nghệ An) Chính trị viên Tiểu đoàn dẫn đầu ra Quảng Bình nhận tân binh.

Ra tới làng Ho, trong khi chờ tân binh mới vào, bộ khung K10 được Quân khu Trị Thiên cho về phép. Hậu cần Sư 324 cấp quân trang, tiền cửa rừng cho số cán bộ khung. Sau khi nghỉ phép 1 tháng, đoàn cán bộ K10 vào lại Quảng Bình về đóng quân ở làng Mỹ Thuỷ, Lệ Thuỷ chờ nhận tân binh.

Giữa tháng 1/1972, một tiểu đoàn tân binh là người Hà Tĩnh được bàn giao về cho K10. Tết năm 1972, K10 ăn tết ở Quảng Bình.

Sau hơn một tháng hành quân, K10 về lại chiến trường quen thuộc đóng quân ở khu vực Địa đạo, bên sông Bồ. Gọi là Địa đạo vì ở đây có hệ thống hầm hào đào vào trong núi. Vốn ngày trước là Sở chỉ huy tiền phương của Quân khu Trị Thiên chỉ đạo các đơn vị tấn công về Huế năm 1968. Hầm hào ở khu địa đạo còn tốt nay là nơi đóng quân của K10. Những ngày này, Sư 324 mới ở ngoài Bắc vào đã phải tham gia đánh địch đang lên càn Động Tranh, Bình Điền và Đường 12.

Tại nơi đây K10 tiếp tục tổ chức huấn luyện, làm quen với chiến trường, nhận thêm vũ khí trang bị đủ cho 1 tiểu đoàn độc lập. Tháng 3/1972 K10 được lệnh vượt Động Chuối về Rào Trăng.

Tiểu đoàn 10 mới vào làm thế đội dự bị cho các đơn vị của Sư 324 đánh quân ngụy ở Địa đạo 310. Một bộ phận tham gia cùi cõng gạo, tải thương và đi giữ chốt trong chiến dịch Xuân Hè - 1972 tại khu vực Khe Trái, Địa đạo, ngã ba Hương Trà. Đại đội 2 bổ sung cho địa phương Hương Trà để giữ vùng giáp ranh. Sau đó Đại đội 2 được bàn giao cho huyện đội Hương Trà.

Đêm mồng 5 rạng ngày 6 tới cả ngày 7/8/1972 tại Thanh Lan Bồ (xã Vĩnh Thái, huyện Phú Vang) bộ đội K10 cùng bộ đội địa phương và du kích Phú Vang tiêu diệt 5 trung đội dân vệ và Ban Chỉ huy Đại đội 992 địa phương quân của địch.

Cuối năm 1972, theo quyết định của Quân khu Trị Thiên, K10 chuyên sang Phong Điền để thành lập Trung đoàn 4 tham gia chiến dịch “Giành đất, cắm cờ”.

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được 4 bên ký kết. Quân Mỹ rút khỏi Việt Nam. Tại chiến trường Trị Thiên - Huế, lợi dụng lệnh ngừng bắn, trong đêm Giao thừa 1973 Trung đoàn 4, Trung đoàn 5, Trung đoàn 6 và Sư 324 của Quân khu Trị Thiên thọc về đồng bằng đánh địch .

Trung đoàn 4 gồm: K10, K2, K3 và K15 đã bí mật tiến về đánh chiếm các làng ở các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, chủ yếu ở các làng, xóm không có dân. Bộ đội K10 tranh thủ đào công sự, sẵn sàng chiến đâu.

8 giờ sáng ngày 27/1/1973, 1 trung đoàn của Sư đoàn 1 ngụy tổ chức tấn công toàn tuyến của các xã ở Quảng Điền. Liên tục trong 7 ngày địch tăng cường lực lượng có cả lính thuỷ quân lục chiến, xe tăng và 4 trận địa pháo yểm trợ đã gây cho ta nhiều tổn thất. Nhiêu chiến sỹ K10 đã bị thương, hy sinh.

Trước sự phản ứng mạnh mẽ của địch, các Tiểu đoàn 10, 13, 15 của Trung đoàn 4 phải rút lên giáp ranh về đứng chân ở xã Phong Sơn, huyện Phong Điền làm thế đội dự bị cho Trung đoàn 2 Sư 324. Chỉ huy Tiêu đoàn 10 đóng ở núi Đông. Khi Sư 324 rút về phía sau củng cố lực lượng giao địa bàn cho Trung đoàn 4 thay các chốt trên địa bàn xã Phong Sơn. C1 và Trung đội 2 của C2 đi phối thuộc chốt ở khu vực Cống Vàng, ngã ba khuỷ đường xe, Điểm cao 140, điểm cao 165 Bên Vượt, Cồn Nồi...

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, K10 và các tiểu đoàn của Trung đoàn 4 được bổ sung tân binh là người Hà Nội.

Ở chốt Cồn Nổi ven sông Bồ ta chốt nửa trên, quân ngụy chốt nửa dưới. Quân ta và quân ngụy chốt ở gần nhau nhưng không bắn nhau, thậm chí còn cho nhau thuốc lá, lương khô. Ở khu vực chốt Thanh Tân, Sơn Quả bên ta và bên quân ngụy Sài Gòn còn tổ chức giao hữu bóng chuyền, dựng “Nhà Hoà hợp”... Đây là sự hy hữu có trong chiến tranh giữa ta và địch, chỉ xảy ra ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, trong chiến tranh binh vận.

Mùa lụt 1973, nước sông Bồ dâng cao, nhấn chìm các chốt của ta và của địch ở Cổ Bi, bộ đội B2 - C2 chốt ở Cồn Nổi đã chủ động chặt tre, đóng bè bảo đảm an toàn  khi nước dâng lên cao.

Quân ngụy bị lụt ở sông Bồ, nửa đêm bỏ chốt Cồn Nổi, Cổ Bi, chạy về giữ cầu Hiền Sĩ, Đường 1. Cả một vùng giáp ranh thuộc xã Phong Sơn do bộ đội ta làm chủ. Bộ đội K10 đóng quân cả phòng tuyến sông Bồ,

Năm 1974, chiến trường Trị Thiên tạm yên tiếng súng. Các cán bộ vào chiến trường lâu năm được Trung đoàn cho thay nhau đi phép và cho người ra Bắc mua nhu yếu phẩm cung cấp cho bộ đội.

Từ khi Mỹ rút, pháo và máy bay của địch cũng hạn chế bay lên miền Tây để bắn phá các tuyến đường xe hoặc có lên lại bị pháo cao xạ của ta bắn chặn. Bộ đội công binh mở các tuyên đường 71, 73 từ đường Hồ Chí Minh về đồng bằng, giáp ranh Phong Điền. Xe ô tô của Binh trạm chở gạo, vũ khí, quân trang phục vụ cho tuyến trước. Bộ đội có đủ gạo, đạn, thực phầm, đường sữa, thuốc men... Đời sống và sức chiến đấu của bộ đội được nâng lên.

Bên dòng sông Bồ, cả ta và địch cùng chiếm giữ. Phía địch có ưu thế hơn ta về cả quân số và hoả lực, lại có các điểm cao để khống chế toàn tuyến. Tại Điểm cao Cồn Tre, địch chiếm cả vạt dưới bờ sông Bồ.

Đầu năm 1974, Ban chỉ huy Tiểu đoàn được kiện toàn và tăng cường thêm cán bộ. Tiểu đoàn trưởng là đồng chí Dương Văn Ngợi, Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn là đồng chí Phan Thái Thị, Tiểu đoàn phó là đồng chí Nguyễn Hữu Xuân, Chính trị viên phó Tiểu đoàn là đồng chí Nguyễn Xuân Hương.

Đầu tháng 9/1974, K10 nhận lệnh phải giành lại Cồn Tre, mở thông tuyến và phá thế phòng thủ của địch. C3 được giao nhiệm vụ là đơn vị chủ lực đánh chiếm lại Cồn Tre. Ngày 11/9/1974, Cồn Tre được giải phóng. Lá cờ xanh đỏ sao vàng phấp phới tung bay ngay trước mũi quân thù. Trận này 8 chiến sỹ của C3 K10 đã anh dũng hy sinh.

Cuối tháng 9/1974, theo lệnh của Quân khu, K10 lại rời khỏi đội hình Trung đoàn 4 về trực thuộc Tỉnh đội Thừa Thiên và hành quân về phòng ngự trên tuyên Động Mái Nhà, Đồi Tròn và Khe Thái. Vào một ngày cuối năm, Tiểu đoàn họp quân chính ở núi Đông, quán triệt nhiệm vụ đánh địch trong chiến dịch Xuân Hè 1975. Tại cuộc họp này, đồng chí Đỗ Kim Cuông được điều về Đại đội 1, tham gia trong Ban chỉ huy C1, đồng chí Đỗ Văn Thịnh ở C3 được điều về C1 làm Trung đội trưởng. C1 là đơn vị chủ công của Tiểu đoàn 10.

Sắp đến Tết Nguyên đán 1975, hậu cần Quân khu dành ưu tiên cho bộ đội tuyến trước. Tiểu đoàn giết heo chia thịt cho các đại đội, gói bánh; bộ đội ngày Tết có trà, thuốc lá.

Sau Tết Nguyên đán, vào ngày 10/3/1975 chiến dịch Mùa Xuân mở màn. Mặt trận Tây Nguyên tấn công địch, phá vỡ cứ điểm Ban Mê Thuột. Quân ngụy vỡ Tây Nguyên, chạy về đồng bằng miền Trung co cụm về tuyến Xuân Lộc, Sài Gòn. Mặt trận Trị Thiên - Huế đồng loạt tấn công địch trên tuyên phòng thủ Thạch Hãn, sông Bồ. K10 đang chốt giữ Phong Điền, nhận lệnh về đồng bằng đánh địch.

Theo kế hoạch, lực lượng Tiểu đoàn C2 chia làm 2 hướng:

- Hướng 1: gồm C1 và C3 do đồng chí Ngợi Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Hương Chính trị viên phó chỉ huy phối hợp với Trung đoàn 4 và Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324) và lực lượng địa phương tấn công xuống đồng bằng ở 2 huyện Phong Điền và Quảng Điền.

- Hướng 2: gồm C2 và C4 do đồng chí Thị Chính trị viên Tiểu đoàn và đồng chí Xuân Tiểu đoàn phó chỉ huy phối hợp với lực lượng Hương Trà, biệt động thành phố tấn công xuông Hương Trà và thành phố Huế.

Tại hướng 1, đêm 9/3/1975, C1 - K10 cùng trinh sát và cán bộ, biệt động du kích của 2 huyện Phong Quảng Điền vượt qua các chốt của địch ở Bình độ 28, một dải đôi chạy dọc theo Quốc lộ 1 về đồng bằng.

C1 - K10 và cánh quân phía Bắc của Trung đoàn 4 gồm K13, K15, có Ban chỉ huy Cánh Bắc đi cùng, hành quân suốt đêm, đến 3 giờ sáng mới về tới bãi cát Triều Dương. Theo kế hoạch, bộ đội trú chân tại đây cả ngày 10/3/1975. Đây là bãi sim mua, cây dương mọc cao quá đầu người. Bộ đội được lệnh đào hầm, ăn lương khô giữ bí mật không để địch phát hiện. Đêm 10/3 rạng ngày 11/3/1975, Đại đội 1 tiếp tục hành quân đến 4 giờ sáng tiếp cận vào ấp Cao Ban, Sơn Tùng. Một trung đội Dân vệ của địch đang nằm ở khu trường học. Sau trái B41 và vài loạt AK bắn vào nơi lính dân vệ đang chốt gác, địch vứt súng bỏ chạy. Bộ đội C1 thu được mấy khẩu AR 15, cạc bin và cối cá nhân, vào làng Tảo Thanh làm chủ tình hình. Các Trung đội 1 của Tấn và Trung đội 3 của Đường tranh thủ đào hầm, hào, chốt giữ các ngả vào làng. Trung đội 2 của Thịnh ra chốt ngoài bờ sông. Ngay từ đêm, dân chúng thấy bộ đội về đã gồng gánh đưa nhau dời làng đi lánh nạn.

9 giờ sáng ngày 11/3, máy bay OV10 và một tốp 3 máy bay A37 của địch từ Huế ra lượn vài vòng thăm dò rồi bắn rốc két vào làng Cao Ban. Rốc két của địch bắn trúng nhà Ban chỉ huy C. Một số anh em không kịp chạy ra hầm bị trúng đạn, hy sinh 7 người trong đó có Nhiếp y tá (quê Quảng Ninh), Công liên lạc (quê Phú Thọ), Gắp “răng vàng” (quê Gia Lâm) là xạ thủ bắn cối 60, còn lại là du kích địa phương và cán bộ dân vận của huyện.

10 giờ, một đại đội địch từ Sịa có 3 xe tăng hộ tống tấn công vào đội hình C1 ở Cao Ban, Sơn Tùng. Tới bìa làng, trúng mìn chống tăng của ta gài, chiếc tăng đứt xích lao xuống ruộng. Bộ binh địch tản ra bị Trung đội 1 của anh Tấn (người Nghệ An), Trung đội 3 của anh Đường nằm ngoài bờ tre nổ súng. Bộ binh địch bị trúng đạn của các chốt ngoài làng hùa nhau bỏ chạy. Địch từ xa gọi máy bay và pháo bắn vào làng. Sau ba đợt tấn công vào Cao Ban, đến 4 giờ chiều địch không vào được Cao Ban, con đường đá chạy từ Sịa về Huế bị cắt đứt, địch phải rút về Sịa.

Buổi chiều tối, Đại đội 1 chôn cất 7 liệt sĩ bên bờ sông Kiến Giang và rút về làng Hiền Lương, bí mật trú chân tại đây ngày 13/3. Riêng một bộ phận của Trung đội 2 do Trực (người Vĩnh Phú) B phó phụ trách chốt ở ngoài làng Cao Ban, bị địch vây, đến đêm theo con hói mới về gặp đơn vị ở làng Hiền Lương.

Đêm 14/3 Đại đội 1 và cán bộ cánh Bắc trở lại bãi Triều Dương, trú chân tại đây cả ngày 15/3. Đêm 15 rạng ngày 16/3, Cánh Bắc và C1 vượt qua tuyến phòng thủ của địch trở lại căn cứ Thanh Tân, Sơn Quả nhận vũ khí và lương khô.

Từ ngày 17/3 đến 21/3 C1 về đứng chân ở dốc Ông Già, xã Phong Sơn, Phong Điền. Tại hướng 2, các lực lượng hành quân tới hói An Lưu thì bị địch phục kích. Đơn vị tổ chức tấn công buộc địch phải rút chạy. Đội hình tiếp tục hành quân tới mục tiêu theo mệnh lệnh.

Một lực lượng của C2 và biệt động thành tiếp cận mục tiêu để đánh Phân Chi khu An Hoà. C4 hoả lực và hoả lực của C2 hành quân qua làng Hương Chữ để tiếp cận Chi khu Hương Trà. Mới hành quân được khoảng 500m cả đơn vị lọt vào trận địa phục kích của địch. Tuy nhiên lực lượng của ta nhanh chóng đánh phản kích, địch phải bỏ chạy.

Đêm 21/3/1975, ta tổ chức tấn công vào Chi khu Hương Trà. Hàng trăm quả đạn cối DKZ, 12,7 ly và B41 đã dìm căn cứ địch trong khói lửa. Địch không thể chống cự nổi và chịu thiệt hại nặng, Bộ đội ta thu quân, rút qua làng Hương Chữ thì bị địch chặn đánh. Lúc này C2 Hương Trà đang trên đường đi ra cũng bị thương vong nặng nề. Đơn vị giải quyết chôn cất các đồng đội hy sinh, khiêng cáng thương binh và thu quân về hậu cứ để củng cố lực lượng.

Ngày 22/3 K10 nhận lệnh về lại đồng bằng đánh địch.

Ngày 23/3 quân ngụy vỡ tuyến phòng thủ Thạch Hãn. Từng đoàn xe tăng, xe chở lính chạy từ Sịa vào Huế theo ngã ba Sình. Theo lệnh của Tiểu đoàn, C1 đánh chặn địch tại làng Cao Ban, Sơn Tùng. Quân ngụy nghe súng của bộ đội không còn sức chống cự, bỏ chạy về Huế, vào Đà Nẵng, ra cửa Thuận An cướp tàu của dân ra biển. Tầu chiến Mỹ của Hạm đội 7 ở ngoài khơi đón tàn quân ngụy di tản.

Đây là trận đánh cuối cùng của C1 - K10 trên đất Quảng Điền.

Các Đại đội 2, 3, 4 và Tiểu đoàn bộ xuống đánh vào phía Bắc Huế, giải phóng các xã của huyện Hương Trà.

Ngày 24/3/1975, Đại đội 1 về giữ An Xuân, huyện Quảng Điền.

Ngày 26/3/1975, Thừa Thiên Huế được hoàn toàn giải phóng. Lá cờ xanh đỏ sao vàng tung bay trên cột cờ Phu Văn Lâu.

Cuối tháng 3 toàn Tiểu đoàn về đóng quân ở làng Xuân Hoà, Kim Long, làm công tác dân vận và giữ vững an ninh vùng mới giải phóng.

Những ngày này bộ đội nghe tin giải phóng lần lượt các tỉnh từng ngày qua Radio.

Ngày 30/4 Đài phát thanh của Hà Nội đưa tin Sài Gòn được giải phóng. Quân dân cả nước vui mừng trong nước mắt dâng trào của Ngày chiến thắng.

Đầu tháng 5, K10 vào Thành Nội tập đội ngũ chuẩn bị cho lễ Duyệt binh mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng (ngày 15/5/1975).

Sau Lễ mừng chiến thắng, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn về đóng quân ở nhà bà Tuần Chi tại thôn Xuân Hoà.

C1 về đóng quân tại làng Dương Sen, cách Huế 15 km. Ban chỉ huy Đại đội ở nhà chú Sáu Đến, sau Nhà thờ Dương Sơn, sát sông Bồ.

C2 của anh Cương (người Nghệ An) đóng quân ở Kim Long.

C3 của anh Vũ Sĩ Bát (người Hưng Yên) đóng quân ở ngã ba An Hoà.

C4 của anh Đại (người Nghệ An) đóng quân ở Kim Long.

Trung đội Thông tin và Tiểu đội Trinh sát ở thôn Xuân Hoà, xã Kim Long.

Tháng 4/1975, K10 nhận lớp tân binh đầu tiên là anh em thanh niên Thừa Thiên - Huế. Số chiến sỹ này được lựa chọn kỹ càng và sớm hoà nhập cùng đơn vị trong các công việc.

Tháng 6/1975, toàn đơn vị về đóng quân ở Cảng Thuận An làm 2 nhiệm vụ là: bảo vệ và dọn dẹp lại Cảng Tân Mỹ, giữ an ninh vùng biển.

Cuối tháng 10/1975, Quân khu Trị Thiên có lệnh ra quân, nhiều cán bộ và chiến sỹ về Trạm trực số 10 Nguyễn Tri Phương tập trung chờ phục viên.

Tháng 3/1976, tỉnh Bình Trị Thiên được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Quảng Bình, Khu vực Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên. Nhiệm vụ của K10 có sự thay đổi. Cả Tiểu đoàn hành quân ra Quán Hàu (Quảng Bình) đào âu tàu phục vụ cho việc mở rộng cảng.

Cuối năm 1976, một số anh em K10 quê miền Bắc thi đỗ vào các trường Đại học, có quyết định ra quân và nhập học. Một số đồng chí chuyển ngành về cơ quan, xí nghiệp cũ.

Tháng 11/1975, cả Tiểu đoàn trở về xã Thuỷ Xuân (thành phố Huế) tham gia xây dựng công trình Nam sông Hương trong thời gian 60 ngày. Trong thời gian này, một số đồng chí được điều ra sông Gianh (Quảng Bình) học làm thợ máy và lái tàu. Tháng 8/1977, Tiểu đoàn tập trung trở lại Thuận An xây dựng doanh trại và tổ chức đánh bắt cá với 8 cặp tàu 82 mã lực, 1 đôi tàu 35 mã lực và 1 số tàu, thuyền đánh bắt cá ngừ. Ngoài ra, đơn vị có thêm nhiệm vụ vừa đánh cá vừa chở vũ khí ra đảo Cồn Cỏ. Vào cuối năm 1977, Tỉnh đội điều động một số cán bộ, chiến sỹ ra Đoàn 853 ở Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh) làm cán bộ khung huấn luyện, đưa quân qua Campuchia và ra các tỉnh biên giới phía Bắc. Số chiến sỹ còn lại của K10 ở cảng Thuận An được sáp nhập vào Tiểu đoàn 8 (Quảng Trị).

Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Tiểu đoàn 10 (1964 - 1978) Tỉnh đội Thừa Thiên luôn gắn liền với phong trào cách mạng của tỉnh. Từ ngày đầu thành lập, qua Mậu Thân 1968, tái lập năm 1971, tới Tổng tiến công và nổi dậy 1975, đến thời kỳ hoà bình bảo vệ Tổ quốc, vừa sẵn sàng chiến đấu và sản xuất làm kinh tế, cán bộ và chiến sỹ Tiểu đoàn 10 (K10) Tỉnh đội Thừa Thiên đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cả nước, của tỉnh Thừa Thiên nói riêng trong sự nghiệp Chống Mỹ cứu nước, giải phóng quê hương, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn