Những chuyến đò đi qua lịch sử

Trong những năm tháng khói lửa của dân tộc, khi đất nước bị chia cắt và chiến tranh lan rộng khắp hai miền, có những con người bình dị đã chọn đứng vào hàng ngũ của những người bảo vệ Tổ quốc bằng chính công việc đời thường của mình. Họ không cầm súng nơi chiến hào, không trực tiếp xông pha giữa những trận đánh lớn, nhưng sự cống hiến và hy sinh của họ đã trở thành một phần không thể thiếu của lịch sử dân tộc. Trong số ấy, hình ảnh của Nguyễn Thị Suốt vẫn luôn hiện lên như biểu tượng đẹp đẽ của lòng quả cảm, đức hy sinh và tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh.
Mẹ Suốt, tên thật là Nguyễn Thị Suốt, sinh năm 1908 tại thôn Trung Bính, xã Bảo Ninh, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, nay thuộc Đồng Hới. Sinh ra trong một gia đình ngư dân nghèo, tuổi thơ của mẹ gắn liền với những tháng ngày cơ cực khi phải đi ở đợ suốt mười tám năm trời. Sau Cách mạng Tháng Tám, mẹ mới lập gia đình và mưu sinh bằng nghề chèo đò trên dòng Nhật Lệ. Cuộc sống của người phụ nữ vùng biển tưởng như sẽ lặng lẽ trôi qua cùng những chuyến đò qua lại giữa hai bờ sông, cùng tiếng sóng vỗ và những mùa cá tôm của quê hương Bảo Ninh.
Thế nhưng, lịch sử đã đặt lên vai người phụ nữ ấy một sứ mệnh đặc biệt. Năm 1964, sau Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, đế quốc Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Quảng Bình trở thành một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt nhất nhằm ngăn chặn tuyến chi viện từ hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Khi ấy, mẹ Suốt đã bước sang tuổi năm mươi tám, cái tuổi mà nhiều người đã lựa chọn nghỉ ngơi bên con cháu, nhưng mẹ vẫn tình nguyện nhận nhiệm vụ chèo đò đưa bộ đội, thương binh, cán bộ cùng vũ khí, lương thực vượt qua sông Nhật Lệ để giữ vững mạch máu giao thông giữa hai bờ.
Suốt những năm từ 1964 đến 1967, giữa những trận bom dội xuống ngày đêm, chiếc đò nhỏ của mẹ vẫn không ngừng xuôi ngược trên dòng sông quê hương. Giữa tiếng máy bay gầm rú và những cột nước dựng lên bởi bom đạn, người mẹ tóc đã bạc vẫn bình tĩnh giữ chặt mái chèo, đưa từng chuyến đò cập bến an toàn. Có những ngày mẹ thực hiện nhiều chuyến liên tiếp, bất kể nắng gắt hay đêm tối, bất kể hiểm nguy luôn cận kề. Theo nhiều tư liệu ghi lại, mỗi năm mẹ thực hiện khoảng một nghìn bốn trăm chuyến đò qua sông, góp phần bảo đảm thông tin liên lạc và vận chuyển lực lượng, hàng hóa phục vụ chiến trường. Chính từ những năm tháng ấy, cán bộ, chiến sĩ và người dân địa phương đã trìu mến gọi mẹ bằng cái tên thân thương: Mẹ Suốt.
Những đóng góp thầm lặng nhưng vô cùng to lớn của mẹ đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Năm 1966, mẹ được mời tham dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc tổ chức tại miền Bắc. Đến ngày 1 tháng 1 năm 1967, mẹ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động ngành Giao thông vận tải trong chống Mỹ cứu nước, một phần thưởng cao quý dành cho người phụ nữ đã biến mái chèo bình dị thành biểu tượng của ý chí và lòng yêu nước Việt Nam.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Những năm cuối đời, khi chiến tranh ngày càng ác liệt, mẹ không còn trực tiếp chèo đò như trước mà tiếp tục tham gia vận chuyển lương thực phục vụ kháng chiến. Thế nhưng bom đạn chiến tranh vẫn không buông tha người mẹ của dòng Nhật Lệ. Trong một trận bom bi của máy bay Mỹ tại khu vực bến đò Bảo Ninh sơ tán ở phía nam bến cũ, mẹ đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ. Mẹ ngã xuống trên chính mảnh đất quê hương mà mình đã dành trọn cuộc đời để gắn bó và cống hiến. Theo bia mộ hiện được an táng tại nghĩa trang quê nhà, ngày mất của mẹ được ghi là ngày 22 tháng 8 năm 1968 âm lịch, tương ứng khoảng ngày 13 tháng 10 năm 1968 dương lịch.
Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Nguyễn Thị Suốt được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, một sự ghi nhận xứng đáng cho lòng quả cảm phi thường của một người phụ nữ bình dân. Không lâu sau, trong một trận không kích dữ dội, mẹ Suốt đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ trên dòng Nhật Lệ. Mẹ ngã xuống giữa khúc sông thân thuộc, nơi đã gắn bó với mẹ suốt cả cuộc đời, như một sự hóa thân vào chính dòng sông mà mẹ từng ngày gìn giữ. Từ đó, tên tuổi của mẹ được nhân dân cả nước khắc ghi như một biểu tượng đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam.
Ngày nay, bến đò năm xưa đã nhường chỗ cho những cây cầu nối liền đôi bờ Nhật Lệ, nhưng hình ảnh người mẹ già với mái chèo trên tay giữa mưa bom bão đạn vẫn sống mãi trong ký ức của nhiều thế hệ. Năm 1980, bia tưởng niệm Mẹ Suốt được dựng lên tại bến đò cũ, và đến năm 2003, tượng đài Mẹ Suốt bên dòng Nhật Lệ được khánh thành như một lời tri ân của quê hương đối với người mẹ anh hùng. Cuộc đời và sự hy sinh của mẹ cũng trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho văn học nghệ thuật, đặc biệt là bài thơ Mẹ Suốt của Tố Hữu đã khắc họa hình ảnh người mẹ chèo đò giữa mưa bom như một bản anh hùng ca lay động nhiều thế hệ người Việt Nam.
Lịch sử sẽ luôn ghi nhớ những vị tướng nơi trận mạc, những chiến sĩ nơi tuyến đầu, nhưng cũng sẽ không bao giờ quên người phụ nữ với mái chèo nhỏ bé đã ngày ngày đưa những chuyến đò vượt qua bom đạn trên dòng Nhật Lệ năm nào. Bởi có những anh hùng được nhớ đến bằng những chiến công hiển hách, còn Mẹ Suốt được nhớ đến bằng một con đò, một mái chèo và một trái tim chưa bao giờ lùi bước trước hiểm nguy của đất nước trong những năm tháng hoa lửa của dân tộc.



