NHỮNG ĐOÁ SEN TRẮNG GIỮA LỬA ĐẠN VÀ LỜI THỀ NON NƯỚC CỦA MẸ UYỂN-HV
NHỮNG ĐOÁ SEN TRẮNG GIỮA LỬA ĐẠN VÀ LỜI THỀ NON NƯỚC CỦA MẸ UYỂN
NHỮNG ĐOÁ SEN TRẮNG GIỮA LỬA ĐẠN VÀ LỜI THỀ NON NƯỚC CỦA MẸ UYỂN
Trong những trang sử vàng của mảnh đất Long An “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”, cái tên Phạm Thị Uyển (tên thật là Phạm Thị Xinh, sinh năm 1928) hiện lên như một tượng đài bằng xương bằng thịt của lòng trung trinh. Cuộc đời Mẹ không chỉ là một hành trình cá nhân đầy bão táp, mà là sự tiếp nối kỳ diệu của một dòng máu anh hùng chảy tràn qua ba thế hệ phụ nữ dưới một mái nhà tại xã An Thạnh, huyện Bến Lức. Đó là một gia tộc mà mỗi người phụ nữ đều mang trên vai sứ mệnh của đất nước, biến nỗi đau mất mát thành sức mạnh bất diệt để bảo vệ từng tấc đất quê hương.
Ngay từ thuở thiếu thời, cô thiếu nữ Phạm Thị Xinh đã lớn lên trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Mẹ là con ruột của Mẹ Việt Nam Anh hùng Huỳnh Thị Tím, và khi bước chân về nhà chồng, Mẹ lại được bao bọc bởi tình yêu của người mẹ chồng cũng là Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Phương. Hiếm có một gia đình nào mà sự hy sinh lại dày đặc và hiển hách đến thế: Cả cha ruột và cha chồng của Mẹ đều là liệt sĩ, đã ngã xuống khi đất nước còn chìm trong lầm than dưới ách đô hộ. Chính cội nguồn ấy đã nhào nặn nên một Phạm Thị Uyển mang trong mình khí tiết của loài sen trắng: thanh tao nhưng vô cùng kiên định, lớn lên từ bùn lầy của khổ đau nhưng vẫn tỏa ngát hương thơm của lòng trung nghĩa.
Cuộc đời Mẹ bắt đầu bị chiến tranh xé nát bằng những cuộc chia ly không hẹn ngày về. Năm 1953, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, Mẹ nhận được tin dữ đầu tiên: Chồng Mẹ, ông Huỳnh Văn Mừng (sinh năm 1930) – Trung đội phó Huyện đội Bến Lức, đã anh dũng hy sinh. Một nách hai con, người vợ trẻ tuổi 25 ấy đã phải nén nỗi đau thắt lòng để trở thành cột trụ của gia đình. Mẹ hiểu rằng, nếu Mẹ gục ngã, linh hồn của những người đã khuất sẽ không yên lòng. Mẹ vừa làm mẹ, vừa làm cha, vừa âm thầm tham gia các phong trào cách mạng địa phương, trở thành cơ sở nuôi giấu cán bộ tin cậy ngay giữa lòng địch.
Thế nhưng, sự nghiệt ngã của bom đạn vẫn chưa dừng lại ở đó. Mười sáu năm sau ngày chồng mất, vào ngày 5/9/1969, trái tim Mẹ lại một lần nữa bị băm vằn khi nhận giấy báo tử của người con trai yêu dấu – anh Huỳnh Văn Hai, Trung sĩ y tá Bộ đội Huyện Bến Lức. Anh ngã xuống tại chiến trường Ba Thu, Campuchia khi đang cứu chữa cho đồng đội dưới làn mưa đạn. Nỗi đau mất chồng chưa nguôi, nay lại mất con, và cay đắng hơn cả là hài cốt của anh đến nay vẫn chưa được tìm thấy. Hai người đàn ông quan trọng nhất đời Mẹ đã hiến dâng mạng sống cho Tổ quốc, để lại Mẹ với nỗi day dứt khôn nguôi dọc theo những năm tháng hòa bình sau này.
Nhưng chính từ trong tột cùng của đau thương, bản lĩnh người chiến sĩ binh vận Phạm Thị Uyển lại càng rực sáng. Từ năm 1954 đến 1959, Mẹ làm giao liên cho Huyện ủy Bến Lức, băng rừng vượt suối để vận chuyển tài liệu mật. Giai đoạn 1959-1966, Mẹ đảm nhận công tác binh vận – một nhiệm vụ đòi hỏi sự mưu trí và gan dạ tuyệt vời. Tháng 10/1966, Mẹ bị địch bắt và giam giữ tại Khám đường Long An. Suốt 4 tháng bị giam cầm, dù phải chịu đựng những đòn tra tấn dã man và sự dụ dỗ xảo quyệt của kẻ thù, Mẹ vẫn giữ vững khí tiết "gan vàng dạ sắt", tuyệt đối không hé môi để bảo vệ an toàn cho tổ chức. Sau ngày giải phóng, Mẹ tiếp tục tận tụy với công việc Trưởng ban Thông tin xã An Thạnh đến năm 1977. Với những hy sinh vô bờ bến ấy, năm 2015, Nhà nước đã trao tặng Mẹ danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng – một sự ghi nhận cao quý cho cuộc đời đã dâng trọn cho dáng hình Tổ quốc.
Khi chắp bút viết lại câu chuyện về cuộc đời Mẹ Việt Nam Anh hùng Phạm Thị Uyển, lòng tôi trào dâng một niềm xúc động và kính phục khôn tả. Cuộc đời Mẹ là một bản trường ca đầy nước mắt nhưng cũng rạng rỡ niềm tin, minh chứng cho sức mạnh phi thường của người phụ nữ Việt Nam. Điều khiến tôi trăn trở nhất là sự hy sinh "kép" của gia đình Mẹ: có tới ba thế hệ phụ nữ anh hùng dưới một mái nhà. Đó không chỉ là lòng yêu nước, mà là một thứ đạo đức cách mạng thấm sâu vào huyết quản. Tôi lặng người đi khi nghĩ về nỗi đau của Mẹ vào năm 1953 khi mất chồng, và năm 1969 khi mất con. Đặc biệt là sự hy sinh của anh Huỳnh Văn Hai; việc hài cốt anh chưa được tìm thấy là một nỗi day dứt hở miệng trong lòng lịch sử, nhắc nhở chúng ta về cái giá quá đắt của tự do. Nhưng vượt lên tất cả, tôi vô cùng khâm phục bản lĩnh của Mẹ trong Khám đường Long An; giữa làn roi của kẻ thù, Mẹ đã chọn sự im lặng để bảo vệ đồng đội. Đó chính là cốt cách cao đẹp: nhẫn nại trong đau thương nhưng rực cháy khi chiến đấu. Việc Mẹ tiếp tục cống hiến sau ngày giải phóng cho thấy tâm thế của một người chiến sĩ không bao giờ giải ngũ. Mẹ Uyển đã hóa thân thành một phần hồn của đất nước, và câu chuyện về Mẹ sẽ mãi là ngọn đuốc truyền lửa cho thế hệ trẻ chúng tôi về lòng trung nghĩa, nghị lực và tình yêu quê hương bất diệt. Mẹ chính là đóa sen trắng thanh cao nở giữa khói lửa, tỏa ngát hương thơm cho muôn đời sau soi thấu.



