VIỆT KIỀU THÁI LAN VÀ LÀO – NHỮNG TẤM LÒNG SON SẮT THỦY CHUNG NHỮNG NGÀY ĐẦU TIÊN Hai anh Vũ Huy Liệu và Đào Mạnh Duệ cùng học một khóa ở Phnôm-Pênh (Cao Miên). Trước cảnh các công chức người Việt Nam và Cao Miên thường bị những tên xếp Pháp hống hách quát tháo, thậm chí xé cả bản vẽ trước mặt những kỹ sư Việt Nam và Cao Miên, các anh rất căm giận. Anh Liệu trước là học sinh trường Trung Học Pavi Viettiane (Collèje - Pavi). Chú là Vũ Hữu Bỉnh - Quản Bỉnh khố xanh - (Adjudent), năm 1941, đã bí mật tổ chức đưa một trung đội khố xanh ở Viêntiane trốn sang Siam (Thái Lan) để rồi trở về đánh Pháp. Còn anh Duệ thì gia đình cha mẹ ở Sài Gòn, cùng hoàn cảnh với anh Liệu. Từ tình bạn rất thân thiết, các anh đã dần dần thổ lộ cho nhau tư tướng ghét Pháp, chống Pháp, rồi cùng nhau bỏ học, ra đi tìm đường cứu nước.
Quân đội Nhật từ Sài Gòn tiến sang Phnôm-Pênh rồi qua Siam, đi tiếp đến các nước khác phối hợp hải lục không quân đánh chiếm lại các nước thuộc địa và bán thuộc địa từ tay các đế quốc Anh, Pháp ở Thái Bình Dương, với khẩu hiệu: “Đông Nam Á của người Đông Nam Á”.
Hai anh đã bỏ học, cùng nhau bí mật trốn gia đình đi lên Vientiane (Lào) và sang Siam gặp anh Vũ Hữu Bỉnh để trở về Việt Nam đánh Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc.
Ngài 20-11-1944, anh Duệ cùng anh Yên (bạn anh Liệu) xuống tàu đi trước. Anh Liệu ở lại tổ chức đám cưới với chị Bắc tại Cầu Lầu và đi lên Vientiane sau một tuần. Hai anh đi tàu thủy ngược dòng Mêkông, lên đến Vơn Khăm, Kỳ Nặc (Thác Khôn) thì lên đi xe ô tô hành khách tới Paksê, rồi lại xuống tàu thủy. Cuộc đi ròng rã mất 24 ngày đêm qua Vơn Khăm, Kỳ Nặc, Savanakhet. Tới Vientiane, các anh ở tại một gia đình cơ sở cách mạng (nhà bà con của anh Vũ Huy Liệu) tại xóm Thạt Luổng. Sau một tuần lễ ẩn náu các anh chị được cơ sở bí mật thuê xe ngựa chạy đến cách bến phà Thà Đừa độ 3 cây số thì xuống xuồng, gấp rút vượt sông Mêkông, sang thị xã Noỏng Khay (Thái Lan).
Khoảng 10 sáng ngày 2-1-1945, các anh tới Thái Lan, ghé thăm một gia đình làm đinh. Đó chính là gia đình anh Đỉnh.
Có nhiều Kiều bào sinh sống ở Noỏng Khay. Khi gặp các anh, kiều bào rất vui mừng. Hội Việt kiều cứu quốc Noỏng Khay điện ngay cho anh Vũ Hữu Bỉnh. Từ tỉnh Oudon (cách Noỏng Khay 50km) anh đi xe nhà binh tới gặp chúng tôi. Anh Bỉnh rất mừng gặp được người cháu ruột. Ngày 3-1-1945, anh Vũ Hữu Bỉnh với quân phục và quân hàm quan hai bộ binh Siam (chính phú Siam đặt tên cho anh Vũ Hữu Bỉnh là “Loi Thô Bin, phắc đi Thay” tức là quan hai Bỉnh tốt với Thái Lan). Anh nói tiếng Siam như người Siam và nói khá thành thạo tiếng Pháp. Anh Bính đưa hai anh vào một cơ quan của tỉnh Noỏng Khay, nhận với nhà chức trách Thái Lan: Anh Vũ Huy Liệu là cháu ruột, còn anh Duệ (đổi họ Vũ là em ruột anh Bính)
Sáng 4-1-1945, chúng tôi lên xe đi vô tỉnh Oudon, nơi anh Bỉnh làm việc. Sau đó về nhà riêng anh chị Bỉnh. Anh chị có hai cháu. Cháu gái tên là Nú, 5 tuổi (tên Việt Nam là Vũ Thị Dao) và cháu trai tên là Oudon Vũ Hữu Hùng, 1 tuổi. Sáng hôm sau hai anh được các anh lãnh đạo Hội Việt kiều cứu quốc Siam tới thăm. Tất cả đều rất mừng vui khi thấy có hai học sinh trốn Pháp sang Siam.
Các ngày tiếp theo, chúng tôi được đưa đi thăm nơi làm việc của Hội Việt kiều cứu quốc tỉnh Oudon. Còn trụ sở của Tổng hội Việt kiều cứu quốc Siam thời kỳ này đóng tại nhà anh chị Bỉnh ở Noỏng Bua. Sàn nhà bằng gỗ, có buồng và một radio có 2 tai nghe để nghe tin tức thời sự trong nước và thế giới. Anh Nguyễn Văn Long (trong Ban lãnh đạo Tổng hội Việt kiều) thường trực nghe đài hằng ngày ghi và nói lại toàn bộ tin tức cho mọi người nghe. Thời gian ấy chỉ yếu là nghe tin đánh Pháp, Nhật ở trong nước và tin Hồng quân Liên xô đánh lui quân phát xít Đức trên đất Liên Xô.
Các anh Nguyễn Văn Chấn, Bí thư Tổng hội Việt Kiều Cứu quốc Thái Lan và Nguyễn Văn Long giải thích cho chúng tôi hiểu cả Pháp lẫn Nhật đều là đế quốc xâm lược và nhân dân ta cũng như nhân dân Lào, Cao Miên cần phải đánh đổ chúng để giành lại độc lập tự do cho từng nước.
Chúng tôi còn được các anh cho biết: tất cả các tỉnh ở Siam, Lào, nơi nào có nhiều Việt kiều thì nơi ấy có tổ chức cách mạng, có các chi hội Việt kiều cứu quốc. Tổng hội Việt kiều cứu quốc Siam là chi nhánh của Tổng hội Việt Minh trong nước (Việt Nam Độc lập đồng minh). Thời gian ấy nhà anh chị Bỉnh chính là nơi làm việc bí mật của ban lãnh đạo Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan. (Noỏng Bua cũng là nơi Bác Hồ từng ở và hoạt động cùng các đồng chí cách mạng Việt kiều). Thấy anh Duệ mới tới, anh Nguyễn Văn Chấn, Bí thư Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan đã đọc tặng anh Duệ bài thơ “Nhớ mẹ”. Nội dung hai thơ thật phù hợp với anh Duệ trong những năm tháng xa cha mẹ và đứa em gái thân yêu của mình:
NHỚ MẸ Con biết rồi đây mẹ khổ nhiều Thân con biệt tích cõi vô liêu Mẹ ngồi chờ đợi trong khuôn cửa Nước mắt dầm tuôn ướt lụa điều
Con ra đi theo tiếng gọi của non sông Giữa lúc rầm tai tiếng hổ gầm Quyết lấy máu mình ra rửa nhục Cho hồn Tổ quốc sống giam cầm.
Quyết chiếu cuốn phim sông Bạch Đằng Và làm sống lại trận Chi Lăng Con ôm mộng lớn noi gương sáng Nguyễn Huệ ngoài trong dẹp phẳng bằng
Con dấn thân ra chốn hải hồ Mẹ đừng lầm tưởng sống bơ vơ Không bàn tay mẹ bàn tay dịu Đã có muôn tay đón sẵn chờ
(ghi tại Noỏng Bua – Tỉnh Udon ngày 08/1/1945) | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II« Trả lời #2 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2022, 10:03:03 am » | Mười lăm ngày đầu tiên ở nhà anh chị Bính, hai anh Liệu, Duệ và một vài Việt kiều khác được hai anh Nguyễn Văn Chấn và anh Nguyễn Văn Long thay nhau giảng cho nghe những vấn đề chính trị cần thiết. Những bài chính trị đầu tiên mà hai anh được giảng giải là:
1 - Lịch sử tiến hóa nhân loại
2 - Lịch sử Cách mạng tư sản Dân quyền Pháp 1789 và cuộc Cách mạng phá nhà ngục Bastille ở Pháp.
3 - Lịch sử Việt Nam trên 4000 năm chống ngoại xâm và giữ nước.
4 - Lịch sử Cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917
5 - Lịch sử Cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo từ những năm 1930 đến 1945.
6 - Phong trào cách mạng của Việt kiều Thái Lan và Lào.
7 - Chương trình Việt Minh (Việt Nam Độc lập đồng minh hội) chống đế quốc Nhật - Pháp.
8 - Chương trình, điều lệ tổ chức dân quân tự vệ, lực lượng võ trang tuyên truyền đánh Pháp - Nhật.
9 - Triết học duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và triết học duy tâm luận của giai cấp tư sản.
Những bài học đầu tiên ấy đã nâng trình độ chính trị chúng tôi lẽn một bước mới và là kim chỉ nam cho mọi công tác và chiến đấu của những năm tháng nối tiếp theo. Chúng tôi không bao giờ quên những bài học cơ bản đầu tiên ấy.
Sau lớp học này, anh Vũ Huy Liệu được phân công công tác; anh Đào Mạnh Duệ cùng với anh Chanh (anh ruột chị Bỉnh) phụ trách một chiếc xe ngựa. Anh Chanh cầm cương xe ngựa, giỏi tiếng Lào và nói tiếng Thái như người Thái Lan. Anh Duệ làm phụ xe (ét) hướng dẫn hành khách lên xuống xe và thu tiền, vừa làm, vừa học tiếng Thái Lan. Xe dài ngoằng, có mui bằng gỗ, hai bánh gỗ bọc vành sắt, dùng đôi ngựa kéo. Trong xe có hai hàng ghế gỗ dài, mỗi bên ngồi được 5 người. Xe không cân bằng: khi hành khách ngồi nặng phía trên thì đít xe vổng lên. Ngược lại khi hành khách ngồi nặng phía sau thỉ hai càng xe vênh lên, ngựa hí ầm ĩ chạy qua, chạy lại, có khi chúng kéo chạy lung tung giữa sân, có lần kéo xe chạy luôn vào chợ, hành khách trên xe được một phen hết hồn vía. Hai anh em cố giữ cho ngựa đứng lại. Cũng may, chưa xảy ra tai nạn nào trong suốt 3 tháng làm xe ngựa. Không rõ ai mua mà lại mua ba con ngựa cái và một con ngựa đực. Cả 4 con đều chưa bao giờ kéo xe chở hành khách. Vậy là phải tập. Mấy ngày đầu, dùng hai cây tre cho ngựa, tập kéo trên bãi phẳng, đường vắng, Tập cho bốn con ngựa quen vai. Người cầm cương chạy theo ngựa để điều khiển. Khi thấy quen rồi mới lắp ngựa vào xe, cho chạy không tải. Sau đó mới tăng tải dần lên. Tới khi điều khiển được ngựa theo ý mình, lúc ấy mới dám đưa xe ra đón khách từ bến xe ô tô (giữa thị xã Ouđon) ra ga khoảng 4 km và đón khách đi xe lửa từ Băngkok ra Ouđon. Hai chúng tôi, một người điều khiển xe (anh Chanh), một người ét (phụ xe) bốc xếp hành lý và thu tiền. Hai anh em phải dậy từ 4 giờ sáng cho ngựa ăn uống 5 giờ sáng đánh xe ra bến ô tô. Chiều 5 giờ phải tắm rửa cho ngựa, cho chúng ăn no, rồi đóng hai con khác ra ga xe lửa đón khách từ Băngkok đến ga Oudon. Trời nắng, trời mưa, trời lạnh cũng phải đi. Hai anh em làm trong ba tháng trời, ngoài chi phí cho người và ngựa được bao nhiêu tiền đều đem nộp hết cho đoàn thể. Đến cuối tháng 3-1945, khi chiến khu Sakon thành lập, anh Vũ Huy Liệu và anh Duệ được chọn đi chiến khu. Chiếc xe ngựa chỉ còn lại anh Chanh quản. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II« Trả lời #3 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2022, 10:05:23 am » | CHIẾN KHU SAKON Chiến khu Sakon được thành lập trong vùng rừng núi tỉnh Sakon (cách thị xã Sakon 20 km). Bên cạnh là các chiến khu của quân du kích Thái Lan được thành lập để đánh Nhật. Chiến khu có 140 anh chị em (trong đó có 10 nữ). Đó là chị Phon, chị Huyền (vợ anh Long), chị Tuyết, chị Phượng, chị Mai, chị Kim, chị Phan Tường Vi v.v... Lực lượng vũ trang của ta lấy tên là “Việt Nam độc lập quân” với lá cờ đỏ sao vàng. Lãnh đạo chiến khu Sakon là các anh: Nguyễn Văn Chấn (Bí thư Tổng Hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan), anh Nguyễn Văn Long, Thường vụ. Hai anh Chấn và Long huấn luyện chính trị; anh Vũ Hữu Bỉnh phụ trách quân sự, giải quyết vũ khí cho chiến khu và chỉ huy huấn luyện quân sự.
Ngoài ra còn có các anh Trần Hoàn (trước là đội khố xanh), anh Lê Quốc Sản (ở Savanakhét Lào), anh Nguyễn Văn Trung (ở Tha Khek Lào). Anh Trần Hoàn là đai đội trưởng, anh Lê Quốc Sản là chi ủy viên chi bộ chiến khu, trực tiếp làm trung đội trưởng, anh Vũ Huy Liệu làm trung đội phó, anh Đào Mạnh Duệ làm tiểu đội trưởng. Cuối tháng 3-1945, chiến khu Sakon được thành lập. Việt kiều trên đất Thái Lan và Lào gửi cho tiền bạc, lương thực, thực phẩm, và nhiều đồ dùng, thuốc men khác. Nhân dân Thái Lan ở vùng này còn giúp đỡ nhiều thứ: Dành cho hai ngôi trường học lớn (nhà sàn) để ở và làm hội trường. Anh em chỉ làm thêm nhà bếp, nhà ăn, phá rừng làm sân tập luyện quân sự. Chiến khu Sakon là niềm tin, là tình đoàn kết gắn bó, được sự nuôi dưỡng của Việt kiều yêu nước, của Đảng Thái tự do (Séri Thay) và của nhân dân Thái. Việt kiều gửi một số súng trường Pháp (Mousqueton). Ngoài ra, Việt kiều ở Vientiane còn đào một hầm, lấy được một số tiểu liên Sten và nhiều đạn dược (do quân Pháp chôn cất trước khi quân Nhật tới). Những vũ khí bạn cho mượn như: súng Thompson Submatchin, tiểu liên Sten, Cabine, trung liên Anh (FM), một số khẩu súng sáu (Rouleau Mỹ). Việc ngoại giao với chiến khu bạn để mượn các loại vũ khí do anh Vũ Hữu Bỉnh phụ trách. Hầu như ai cũng biết tháo lắp và sử dụng được các loại vũ khí hiện có. Mọi người được luyện tập chiến đấu. Chỉ huy quân sự vừa là huấn luyện viên quân sự là các anh Vũ Hữu Bỉnh, Trần Hoàn và một số anh em đã từng là cai, là đội lính khố xanh, khố đỏ của Pháp trước đây. Có lần, chúng tôi thấy mót số cán bộ, chỉ huy chiến khu bạn sang thăm, trong đó có ông Nai Tiêng (Tổng chỉ huy quân du kích Thái Lan) nước da ngăm ngăm, đi giày ủng da, cưỡi ngựa màu nâu. Ông xuống ngựa và bắt tay thân mật các cán bộ lãnh đạo chiến khu Sakon của ta.
Việc thành lập chiến khu Sakon trước hết được các nhà lãnh đạo Đảng Thái Tự do (Séri Thay) tán thành và hết lòng giúp đỡ, ủng hộ. Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái - Lào đã kịp thời tập hợp những thanh niên ưu tú đầu tiên thành lập Chiến khu Sakon, chuẩn bị sẵn sàng khi thời cơ đến thì cùng đồng bào cả nước cướp lấy chính quyền cách mạng, trước hết là cùng với Mặt trận cứu nước Issala Lào cướp lấy chính quyền từ tay phát xít Nhật, giúp phong trào cách mạng Cao Miên chống đế quốc Pháp.
Về chính trị, chúng tôi được học tập những bài như đã kể ở phần trước.
Năm tháng sống trong chiến khu Sakon, chúng tôi luôn vui tươi, phấn khởi, đoàn kết gắn bó thương yêu chăm sóc nhau như anh em ruột thịt. Lao động, học tập chính trị, quân sự cật lực, nhưng ai nấy đều rất vui, rất hăng say, không thấy nhớ nhà. Anh Duệ khi bị ngã nước, sốt rét, nằm vùi hai ba ngày liền, được uống thuốc ký ninh (quinine), các chị chăm sóc chu đáo, nên sức khỏe phục hồi nhanh chóng. Thật cảm động trước tình thương yêu của tập thể và lãnh đạo của chiến khu. Chiều chiều kéo nhau ra suối tắm, tối về tập các bài hát, phần lớn là do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác, như: Xếp bút nghiên; Lên dàng; Tiếng gọi thanh niên; Một đi là không trở về; Bạch Đằng Giang; Thăng Long Thành; Hội nghị Diên Hồng; Ải Nam Quan; Cùng nhau đi hùng binh v.v...
Trung đội nào cũng sáng tác và tập được nhiều vở kịch ngắn (tự biên tự diễn) với nội dung đoàn kết, chống giặc ngoại xâm. Cứ vài tuần hoặc nhân một dịp kỷ niệm nào đó lại tổ chức đêm lửa trại. Các anh Vũ Hữu Bỉnh thường đóng vai xếp Pháp (chef), anh Lê Quốc Sản vai xếp Nhật, anh Nguyễn Văn Trung (Thàkhek) vai chỉ huy Việt Minh, các vai phụ thường là chúng tôi và các chị em. Một tiết mục sôi nổi, vui trẻ và lành mạnh đó là ca múa lămvông. Nhiều chị em múa lămvông rất đẹp, trẻ trung và duyên dáng với bộ đồ Thái Lan mượn ở các bản lân cận. Đêm “lửa trại” của chiến khu Sakon thường mời anh chị em chiến khu bạn Thái Lan sang dự và đã được bạn hưởng ứng nhiệt tình. Bạn cũng nhiệt tình múa hát với chúng tôi.
Thật không có gi vui và hạnh phúc bằng những ngày tháng đầu tiên trong cuộc đời được sống tự do, bình đẳng, dân chủ, mọi người đều thương yêu nhau. Đó lại là những năm tháng sống và chiến đấu trên đất bạn.
Cuối tháng 7-1945, khi được tin phát xít Nhật sắp đầu hàng, chiến khu Sakon bắt đầu giải tán. Ban lãnh đạo chiến khu phân công tất cả đi về các tỉnh ở Lào. Anh Lê Quốc Sản cùng một bộ phận đi Savanakhét, anh Vũ Hữu Bỉnh, Trần Hoàn, anh Liệu sang Vientiane. Anh Nguyễn Văn Trung về Thakhek. Tất cả đều tạo được thế chính trị mới ở mỗi nơi, cùng Mặt trận yêu nước Issala Lào cướp lấy chính quyền cách mạng. Anh Xợt, anh Đào Mạnh Duệ đi Bathambang (khi ấy còn thuộc về Thái Lan) cùng với Hội Việt kiều cứu quốc (có anh chị Sáu Rỗ) hoạt động. Được một thời gian, ban lãnh đạo Tổng Hội Việt kiều rút anh Xợt về Lào làm công tác Việt kiều. Đến giữa tháng 9-1945, anh Duệ được rút về làm chỉ huy phó chính trị bộ đội Việt kiều Giải phóng quân tỉnh Vientiane (Lào). |
|
|