Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Những kí ức cũ còn sót lại sau thống nhất đất nước.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Toàn quê huyện Đại Lộc (Quảng Nam), năm 1955, ông theo cha mẹ vào định cư tại xã Xuân Trường, cách trung tâm TP Đà Lạt khoảng 30km về phía Đông. Đây là vùng đất được bao bọc bởi núi rừng, cũng tiện bề di chuyển xuống duyên hải Nam Trung Bộ qua đèo Sông Pha vào đất tỉnh Ninh Thuận.

Đà Nẵng30/12/2025Trần Minh Nguyên Thy (Chi đoàn 10 chuyên Văn - Đoàn trường THPT chuyên Lê Thánh Tông)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tên: Trần Minh Nguyên Thy.

Lớp 10/6

Những kí ức cũ còn sót lại sau thống nhất đất nước.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Toàn quê huyện Đại Lộc (Quảng Nam), năm 1955, ông theo cha mẹ vào định cư tại xã Xuân Trường, cách trung tâm TP Đà Lạt khoảng 30km về phía Đông. Đây là vùng đất được bao bọc bởi núi rừng, cũng tiện bề di chuyển xuống duyên hải Nam Trung Bộ qua đèo Sông Pha vào đất tỉnh Ninh Thuận. Và có lẽ vì thế Xuân Trường trở thành nơi hội tụ đầy đủ các điều kiện để ta xây dựng căn cứ cách mạng, hoạt động bí mật trong lòng địch. Năm 1964, ông Toàn vào du kích, trở thành người đầu tiên tại địa phương tham gia lực lượng vũ trang và thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của xã Xuân Trường, TP Đà Lạt.

Sau trận tập kích mưu trí, tiêu diệt hơn 10 binh lính, chuyên gia quân sự ngụy tại đài ra đa Trạm Hành, năm 1968 ông Toàn được cấp trên tin tưởng, cử ra Bắc để đào tạo sĩ quan nhằm chuẩn bị nguồn lực cho cuộc chiến lâu dài. Hơn một năm sau, người chiến sĩ ấy được điều động về lại chiến trường miền Nam, nhận nhiệm vụ tại Sư Đoàn 7, chức vụ Đại đội trưởng, trực tiếp chiến đấu tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ. “Đó là khoảng thời gian cực kỳ gian khổ, thiếu thốn đủ đường. Khi đánh địch thì ta công khai chiến đấu nhưng hoạt động thì phải tuyệt đối giữ bí mật!..”, ông Toàn kể. Kể cả trong những ngày khốn khổ đủ đường, thứ níu giữ sự kiên định trong lòng ông lại là thứ “tinh thần thép” và một trái tim yêu nước nồng nàn, đậm sâu. Chính cái tinh thần sắt đá ấy được hun đúc từ sự khốc liệt nơi mưa bom bão đạn, nơi chỉ tồn tại sự sống và cái chết.

Từ năm 1973, khi lực lượng của ta ngày càng lớn mạnh, được tổ chức bài bản, các đơn vị nằm vùng sẵn sàng giao tranh với địch để mở rộng địa bàn hoạt động. Đường 13, từ biên giới Campuchia về Bình Phước, Bình Dương tới Sài Gòn khi đó trở thành “con đường máu”, “những dây tơ máu” chằng chịt rải rác trên khắp tuyến đường và ấy là kết quả của những trận chiến khốc liệt, giữa mất và còn, giữa vinh quang và bại trận, giữa ta và địch. “Rất nhiều chiến sĩ của ta đã anh dũng hy sinh!.. Quân địch đông áp đảo, khí tài vô cùng hiện đại. Mỗi khi hành quân, chúng thường cho xe tăng, xe bọc thép đi trước càn quét để mở đường, theo sau mới là xe chở quân đổ bộ. Ta chủ yếu đánh du kích, lấy yếu đánh mạnh. So sánh tương quan lực lượng hai bên quá chênh lệch nhưng quân ta chiến đấu vô cùng dũng cảm không sợ hy sinh!..”, ông Toàn rưng rưng khi kể lại một phần kí ức sống dậy trong tâm trí, của lịch sử chiến tranh tàn khốc. Nhớ về sự hy sinh anh dũng của đồng đội lại khiến ông Toàn xót xa, xúc động. Chiến tranh lấy đi của ông những người chiến hữu luôn cùng ông đồng cam cộng khổ và để lại cho ông những vết thương khoét sâu trong lòng người, để lại những dư chấn tinh thần sau đống đổ nát nơi “con đường tơ máu”.

Đầu năm 1973, Sư đoàn 7 quyết định mở mặt trận tại Lộc Ninh nhằm mở rộng vùng hoạt động tại khu vực giáp với biên giới với Campuchia, chuẩn bị các điều kiện để giao tranh lâu dài với địch. Ta từ hướng biên giới “mở đường máu”, đánh thẳng vào các đơn vị đồn trú của địch dọc đường 13 nhằm tạo ra một hành lang tương đối an toàn để thực hiện kế hoạch lâu dài. Hai bên đánh nhau, giằng co quyết liệt nhằm giành lợi thế trên chiến trường. Sau nhiều ngày giao tranh, quân ta chiến đấu kiên cường song cũng rất nhiều chiến sĩ đã dũng cảm hy sinh, “đắp thân mình” để cứu lấy đất nước. Phía địch thiệt hại vô cùng lớn, đặc biệt là quân số. Trước nguy cơ thất thủ, địch huy động lực lượng, phương tiện đóng tại cửa ngõ Sài Gòn kéo lên bổ sung quân. Sau nhiều ngày chiến đấu, cả ta và địch liên tục tăng quân tiếp viện, hỗ trợ cho các đơn vị trực tiếp chiến đấu.

Trong trận đánh khốc liệt, kéo dài nhiều ngày này, chiến sĩ Nguyễn Văn Toàn trúng đạn M79 của địch, bị thương rất nặng, được đồng đội giải cứu đưa về hậu tuyến. Khi tỉnh dậy, mắt phải của ông Toàn không còn nhìn thấy ánh sáng, chỉ còn sự mịt mù về phía bóng tối, trên người là vô số vết thương do bom đạn gây ra. Chiến trường thiếu thốn đủ đường, cả thuốc men lẫn băng gạc, không đủ điều kiện để điều trị, vết thương của ông ngày càng nghiêm trọng. Cấp trên chỉ đạo phải đưa ngay chiến sĩ Nguyễn Văn Toàn ra Bắc để điều trị để cứu giữ tính mạng.

Sau 7 ngày đêm di chuyển, bí mật vượt qua nhiều phòng tuyến lẫn cửa ải của quân địch, ông Toàn được đưa ra Hà Nội. Dù vậy, các bác sĩ cũng không thể cứu được mắt phải của ông bởi lẽ sự ngâm lâu của vết thương. Hai mảnh đạn bằng đồng được phát hiện vẫn còn ghim sâu ở vùng mắt phải. Vết tích của chiến trường dường như vì thế hằn sâu lên mắt ông. Vì thiếu thốn thuốc men, dụng cụ phẫu thuật, cũng may là vết thương của ông Toàn dần tự lành nhưng hai mảnh đạn thì vẫn chưa được lấy ra. Đầu năm 1975, các đơn vị của Quân Đoàn 1 dồn dập tuyển quân, đổ binh lính vào chiến trường miền Nam. Hàng loạt trận đánh lớn chưa từng có đã mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong thời khắc cả nước vì miền Nam ruột thịt, bỏ lại người vợ mới cưới trong thời gian ở Hà Nội điều trị vết thương, thương binh Nguyễn Văn Toàn lại hăm hở, vui tươi như một “đứa trẻ to xác” trở về chiến trường khốc liệt với biệt danh “Toàn một mắt”.

Đầu tháng 4/1975, ông Toàn nhận nhiệm vụ C trưởng C3, Tiểu đoàn đặc công 200C, Quân khu 6, chiến đấu tại Bình Thuận. “Đây là đơn vị chủ công, chiến đấu thường xuyên với quân địch, đánh những trận then chốt, quyết định trong các chiến dịch của Quân khu 6 hoặc độc lập tác chiến vào những căn cứ chiến lược và hậu cứ của Mỹ - Ngụy!..”, ông Toàn cho biết. Thời điểm này, quân địch thất thủ tại nhiều mặt trận, rút quân co cụm, cố thủ tại các tỉnh lân cận và cửa ngõ Sài Gòn, xây dựng nơi đây thành tuyến phòng thủ vững chắc nhằm đối phó với Quân Giải phóng. Mặc dù quân địch đông đảo với vũ khí hiện đại nhưng là đám quân rệu rã được hợp thành từ các đơn vị thua trận, bị quân ta đánh cho tơi tả nên đã mất hết tinh thần chiến đấu. Những ngày cuối tháng 4/1975, khi bị quân ta bao vây, ào ạt tấn công, địch nổ súng chống trả yếu ớt và tháo chạy thoát thân, kẻ giơ tay đầu hàng.

Cùng đồng đội đánh bại quân địch ở Bình Thuận, ông Nguyễn Văn Toàn ngược lên quê nhà Đà Lạt cũng là thời điểm quân địch ở đây đang bước vào thời kỳ khủng hoảng tột độ. Trước nguy cơ bị quân ta bao vây, từ cuối tháng 3/1975, hơn 15.000 quân địch bắt đầu rút khỏi Đà Lạt - Tuyên Đức, co về Sài Gòn cố thủ. Chớp thời cơ, các đơn vị của ta nhanh chóng chiếm lĩnh đường 11, làm chủ Cầu Đất - Xuân Trường, theo đường 11 kéo lên Đà Lạt. Ngày 3/4/1975, Tiểu đoàn 186, 840, sau khi giải phóng Di Linh, chiếm Tùng Nghĩa, theo đường 20 từ Đức Trọng cũng lên Đà Lạt. Khoảng 8h, ngày 3/4/1975, lực lượng của ta tiến vào tiếp quản Tòa Hành chính tỉnh Tuyên Đức, chính quyền ngụy chính thức sụp đổ. Sau hơn 50 năm dẫu chiến tranh đã đi qua, những đớn đau cũng dần vơi đi theo năm tháng song sự anh dũng, xung phong chiến đấu vẫn luôn là “huân chương” tồn vong cùng thời đại đã minh chứng cho một “tinh thần sắt cứng như đá” sẵn sàng hiến dâng thân mình vì hòa bình Tổ quốc của ông Toàn. Chiến trường ấy vẫn còn vẹn nguyên, vẫn luôn là sự khắc khoải le lói ấm nóng chảy dọc trong tim của cựu chiến binh như một lời nhắc nhở về những lần xả thân quên mình cứu nước, như một bài học về một tấm gương ngời sáng cho thế hệ trẻ và cả thế hệ mai sau. “Nó là lời nhắc nhở con cháu và thế hệ mai sau về những năm tháng kháng chiến trường kỳ. Cái giá của nền hòa bình, độc lập, tự do, đất nước thống nhất hôm nay phải đánh đổi bằng xương máu của hàng triệu con người Việt Nam qua các thế hệ!”, cựu chiến binh Nguyễn Văn Toàn chia sẻ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Những kí ức cũ còn sót lại sau thống nhất đất nước. | Câu chuyện thời hoa lửa