NHỮNG KÍ ỨC KHÔNG NGỦ: CHẶNG ĐƯỜNG KHÁNG CHIẾN

Lịch sử không chỉ được lưu giữ qua những trang sách, mốc thời gian hay những con số thống kê. Lịch sử còn hiện diện trong ký ức của những con người từng trực tiếp đi qua chiến tranh, từng chứng kiến những biến động của đất nước và mang theo những trải nghiệm ấy suốt cuộc đời. Vết chân chim nơi khoé mắt, những vết sẹo cũ hằn sâu vào da thịt, những vết thương mãi đi cùng theo năm tháng và trái tim vang mãi niềm tự hào Tổ Quốc đều là những minh chứng rõ nhất cho vòng quay thời gian từ ngày đầu tham gia kháng chiến đến khi đất nước hoà bình của những người lính xưa. Qua câu chuyện của các cựu chiến binh, những lát cắt lịch sự được hình thành từ chính câu chuyện của những người trong cuộc
THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ - 81 NGÀY ĐÊM KHẮC NGHIỆT
Năm 1972, Thành cổ Quảng Trị trở thành chiến trường ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau khi mất quyền kiểm soát Quảng Trị, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung lực lượng lớn nhằm tái chiếm khu vực này. Trước sức ép của những đợt tiến công dữ dội, quân và dân ta kiên cường bám trụ, chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng.
Trong 81 ngày đêm, từ cuối tháng 6 đến tháng 9 năm 1972, Thành cổ Quảng Trị và khu vực xung quanh phải hứng chịu những đợt bom pháo dồn dập. Mỗi tấc đất đều gắn với sự bền bỉ, lòng quả cảm và những hy sinh to lớn của người lính. Đằng sau những trang sử vẻ vang về chiến dịch là cuộc sống của những con người phải đối diện với hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt - nơi tình đồng đội và ý chí hoàn thành nhiệm vụ trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc.
Là cựu chiến binh từng gắn bó với Thành cổ Quảng Trị, Đại tá Nguyễn Văn Hợi mang trong mình những ký ức về một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Trong cuộc trò chuyện trước buổi họp báo phim Mưa đỏ, những chia sẻ của ông là dịp để nhìn lại cuộc chiến từ góc nhìn của người từng trải qua chiến trường.
Cụ kể Thành cổ mỗi chiều chỉ khoảng 500 mét, nhưng tiểu đoàn của cụ đã có hơn 1.000 người nằm lại. Nỗi đau ấy được cụ gửi gắm trong lời nói với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: “ nếu xếp hơn 1000 người của chúng tôi vào Thành cổ thì Thành cổ rộng nhưng đồng đội tôi nằm chật.” Không chỉ là một câu nói đầy ám ảnh, mà còn là nỗi xót xa của người lính sống sót khi nghĩ về những đồng đội đã mãi mãi nằm xuống.
Nhắc đến những ngày cuối cùng ở Thành cổ, cụ Hợi đặt tay lên cụ Can - người đồng đội của mình , bồi hồi kể: “Mình với bác Can ở đây là những người cuối cùng rời khỏi Thành cổ, chúng mình như chỉ còn gần 10 người thôi.” Từ những năm tháng cùng hành quân, chiến đấu đến giây phút rời chiến trường, tình đồng đội vẫn là sợi dây gắn kết những người lính đi qua lằn ranh sinh tử.
Khi được hỏi vì sao tại buổi giao lưu với đoàn phim Mưa đỏ lại có ít cựu chiến binh đến dự, cụ Hợi nghẹn ngào đáp: “Các anh chị hãy vào trong Thành cổ đào các mồ mả các chiến sĩ không tên ấy đưa họ về, người ta chết hết ở trong Thành cổ rồi chứ còn ai nữa.” Với cụ, những giọt nước mắt khi xem phim không chỉ dành cho ký ức của riêng mình, mà còn dành cho những đồng đội đã nằm lại giữa mưa bom, bùn đất Quảng Trị năm 1972.
Khép lại câu chuyện, cụ nhắn nhủ thế hệ trẻ: “Các bạn hỏi là đất nước cho mình cái gì thì hãy nghĩ đến một điều mình đã làm gì cho đất nước, .” Lời nhắn mộc mạc của người lính năm xưa cũng là lời gửi gắm đến những thế hệ mai sau: chiến tranh đã qua, nhưng trách nhiệm gìn giữ những giá trị mà cha anh đánh đổi bằng tuổi trẻ và sinh mệnh vẫn còn nguyên vẹn.
NGƯỜI CẬN VỆ CỦA BÁC - KÝ ỨC LỊCH SỬ TỪ NHỮNG NĂM KHÁNG CHIẾN
Nếu ký ức Thành cổ Quảng Trị đưa người đọc trở lại chiến trường năm 1972, câu chuyện của cựu chiến binh Trần Ngọc Lân mở ra một giai đoạn sớm hơn của lịch sử dân tộc. Ông từng làm nhiệm vụ cận vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1950–1954, những năm tháng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ.
Đây là giai đoạn quân và dân Việt Nam giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm 1950 giúp quân đội ta mở rộng thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Tiếp đó, các chiến dịch Tây Bắc và Thượng Lào góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh, trước khi thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954 tạo bước ngoặt quyết định, dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ.
Trong bối cảnh ấy, công việc của một người cận vệ gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời đặt người thực hiện nhiệm vụ vào những hoàn cảnh đặc thù của cuộc kháng chiến. Những trải nghiệm của người từng trực tiếp làm nhiệm vụ có thể đem đến góc nhìn gần gũi hơn về con người, công việc và đời sống trong thời kỳ lịch sử ấy.
Trong chương trình “Tự hào là người cận vệ của Bác”, cựu chiến binh Trần Ngọc Lân đã đưa người nghe trở về những năm tháng 1950–1954, khi ông trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc. Với người chiến sĩ trẻ năm ấy, nhiệm vụ bảo vệ Bác không chỉ là niềm vinh dự lớn lao mà còn mang ý nghĩa thiêng liêng. Ông tâm niệm: “Bảo vệ Bác là bảo vệ giang sơn đất nước, Bác là trái tim của đất nước.”
Trong bốn năm được sống và làm nhiệm vụ bên Bác, bác Lân có nhiều kỷ niệm không thể nào quên. Một trong những câu chuyện khiến ông nhớ mãi là lần mạnh dạn hỏi Bác một điều rất đỗi chân thành vào năm 1950. Ông kể: “Bác bảo cháu có thắc mắc gì cháu cứ nói đi”. Được Bác khuyến khích, người chiến sĩ trẻ liền hỏi: “Thế Bác, cho cháu xin phép hỏi là tại sao Pháp có máy bay, xe tăng, tàu chiến, ta lại không có ạ?”
Câu hỏi khiến Bác và các đồng chí Trung ương bật cười. Nhưng thay vì bỏ qua bởi sự non trẻ của người chiến sĩ, Bác ân cần giải đáp và động viên mọi người hướng về nhiệm vụ trước mắt. Theo lời kể của bác Lân, Bác trả lời:" sau này, ta có rất nhiều máy bay xe tăng tàu chiến, chỉ sợ lúc đó các cháu không có tài sử dụng thôi. Nhưng trước mắt bảo vệ cho đại hội thành công khi ra tiền tuyến, giết giặc lập công dâng Đảng đang Bác và trung ương, các cháu làm được không? " Trước lời hỏi han, căn dặn ấy, những người lính đồng thanh đáp: “Làm được ạ!”.
Sau câu chuyện, bác Lân còn nhớ mình được chi ủy nhắc nhở rằng lần sau có thắc mắc thì nên hỏi anh phụ trách, tránh làm gián đoạn buổi sinh hoạt của Trung ương. Nhắc lại kỷ niệm ấy, ông không giấu được niềm vui: “Mình nghĩ thế nào thì mình hỏi thế. Tự nhiên, rất là tự nhiên từ đáy lòng thôi, thì cái sung sướng là được Bác giải đáp cho từng lời, từng ý một.” Một câu hỏi tưởng chừng đơn giản đã trở thành ký ức đặc biệt, bởi người trả lời ông khi ấy chính là vị lãnh tụ mà ông hết lòng kính yêu.
Không chỉ ghi nhớ những lời căn dặn trong công việc, bác Lân còn khắc sâu những bài học từ cuộc sống hằng ngày bên Bác. Ông kể Bác dạy các chiến sĩ võ thuật, đồng thời dạy cả về đạo đức; những điều Người chỉ bảo dần thấm nhuần vào nhận thức và cách sống của mỗi người. Đặc biệt, sự quan tâm của Bác không dừng lại ở những nhiệm vụ lớn lao mà còn thể hiện trong từng điều bình dị, từ miếng ăn đến manh áo của chiến sĩ. Chính sự gần gũi và ân cần ấy khiến Người luôn được các chiến sĩ yêu quý, kính trọng.
Bốn năm bên Bác đã lùi xa theo dòng chảy của thời gian, nhưng những kỷ niệm vẫn sống động trong trái tim người cựu chiến binh. Với bác Lân, được bảo vệ Bác là một niềm tự hào, còn được học tập từ Người là hành trang theo ông suốt cuộc đời. Khi nhắc đến Bác Hồ, giọng kể của ông không khỏi xúc động: “Bác Hồ thì luôn luôn nhớ mãi trong trái tim tôi.” Đó cũng là tình cảm chân thành của một người lính từng có những năm tháng đặc biệt bên vị lãnh tụ của dân tộc.
NHỮNG BƯỚC CHÂN TRONG ĐÊM HÀNH QUÂN - ĐI QUA NGÀY LỬA ĐẠN
Cựu chiến binh Nguyễn Tiến Quế nhập ngũ năm 1974, từng tham gia hai chiến dịch lớn là Tây Nguyên và Hồ Chí Minh. Trong chương trình “Ký ức cựu chiến binh chống Mỹ” trên kênh Truyền hình Điện Biên, ông đã đưa người nghe trở về những tháng ngày hành quân gian khổ, khi tuổi trẻ của mình gắn liền với những bước chân tiến về chiến trường và khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Nhớ về những ngày hành quân vào chiến trường Tây Nguyên, ông kể: “Chúng tôi đi đến Quảng Bình là đi đường chính thì xe cộ tất cả rất là khó khăn, nó bắn suốt ngày suốt đêm. Cho nên là chủ yếu là đi bộ.” Giữa những tuyến đường thường xuyên bị đánh phá, người lính phải vượt qua chặng đường dài bằng chính đôi chân của mình. Không có những điều kiện thuận lợi, mỗi bước tiến về phía trước đều đòi hỏi sự bền bỉ và quyết tâm.
Đặc biệt, khi chuẩn bị tiến công Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975, đơn vị của ông phải hành quân trong đêm để bảo đảm bí mật. Buôn Ma Thuột là mục tiêu then chốt của chiến dịch, thắng lợi tại đây đã tạo bước ngoặt quan trọng, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường và mở ra thời cơ tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam. Trong ký ức của cụ Quế, những ngày tháng ấy không chỉ có tiếng súng chiến trường mà còn có những gian khổ âm thầm trên đường hành quân.
Ông nhớ lại: “Hành quân ban đêm thì không ai nhìn thấy ai cả, mà hành quân là cứ cách nhau ba mét.” Để nhận biết người đi trước giữa bóng tối, mỗi chiến sĩ phải buộc một chiếc khăn trắng phía sau ba lô. Trên vai họ là súng, đạn, gạo cùng những vật dụng cần thiết cho chặng đường dài. Ông kể, mỗi người mang theo ba quả lựu đạn, một khẩu súng, một bao gạo và ba lô quần áo. Hành trang nặng trĩu, đường đi lại tối tăm, những người lính cứ lặng lẽ nối nhau bước tiếp.
Có một kỷ niệm đến nay ông vẫn nhớ khi nhắc về những đêm hành quân ấy. Vì quá mệt mỏi, có những người lính ngủ quên ngay trên đường. Giữa bóng tối, người đi sau không nhìn thấy đồng đội nằm phía trước nên vô tình bước trúng, khiến người đang ngủ giật mình tỉnh dậy rồi lại tiếp tục hành quân. Kể lại chuyện cũ, ông không giấu được sự xúc động khi nhớ đến những gian khổ mà đồng đội đã cùng nhau trải qua. Ông xem đó là một trong những kỷ niệm vừa nhọc nhằn, vừa khiến mình “hãnh diện cho bản thân mình” khi nhìn lại những năm tháng đã sống và chiến đấu.
Nhớ về trận đánh Buôn Ma Thuột, cụ Quế kể đơn vị bắt đầu nổ súng vào khoảng hai giờ sáng ngày mùng 10 đến khoảng tám giờ sáng, nhiều đồng đội đã bị thương, nhưng cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Sau khi Buôn Ma Thuột được giải phóng, đơn vị chỉ nghỉ lại một ngày rồi bàn giao địa bàn cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh tiếp quản để hành quân đến những mục tiêu tiếp theo.
Ông kể lại: “Thế sau khi được giải phóng thì chúng tôi được nghỉ một ngày, chỉ lấy một ngày. Thế là chúng tôi bàn giao lại toàn bộ cho các đồng chí tiếp quản... Thế là chúng tôi tiếp tục hành quân.” Lời kể mộc mạc ấy cho thấy nhịp chiến đấu khẩn trương của những người lính trong thời điểm lịch sử đang chuyển mình từng ngày. Chiến thắng vừa đến, họ chưa có nhiều thời gian nghỉ ngơi mà đã tiếp tục lên đường, mang theo nhiệm vụ mới và niềm tin vào ngày toàn thắng.
Từ những đêm hành quân giữa bóng tối đến những trận đánh quyết liệt trong Chiến dịch Tây Nguyên, ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Tiến Quế là câu chuyện về một thế hệ đã đi qua chiến tranh bằng lòng dũng cảm, sức chịu đựng và tinh thần trách nhiệm. Những điều ông nhớ không chỉ là chiến công trên bản đồ lịch sử, mà còn là những bước chân mệt mỏi, những người đồng đội cùng hành quân và những ngày tháng gian khổ đã trở thành một phần không thể quên của cuộc đời người lính.
KÍ ỨC CÁ NHÂN TRỞ THÀNH KÍ ỨC LỊCH SỬ DÂN TỘC
Ba nhân chứng, ba chặng đường và ba bối cảnh lịch sử khác nhau, nhưng câu chuyện của họ cùng mở ra một cách tiếp cận lịch sử từ trải nghiệm của người trong cuộc. Một người gắn với Thành cổ Quảng Trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; một người từng làm nhiệm vụ cận vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến chống Pháp. Những ký ức ấy góp phần làm rõ rằng lịch sử không chỉ được tạo nên bởi các chiến dịch hay những quyết định mang tầm vóc lớn lao, mà còn bởi cuộc đời, công việc và những lựa chọn của từng con người.
Lắng nghe nhân chứng lịch sử cũng là dịp để thế hệ trẻ hiểu rằng phía sau những trang sử là những số phận cụ thể, những trải nghiệm không thể tái hiện trọn vẹn chỉ bằng những dòng tường thuật. Mỗi lời kể chân thực, mỗi kỷ niệm được lưu giữ đúng với những gì người trong cuộc chia sẻ đều góp phần nối liền ký ức của thế hệ đi trước với nhận thức của thế hệ hôm nay.


