Những kỷ vật của lương y Lê Thế Trung (1)
Những kỷ vật của lương y Lê Thế TrungNhững kỷ niệm trong cuộc đời làm nghề y từ khi tham gia kháng chiến chống Pháp đến khi hòa bình của Thiếu tướng, GS. TSKH Lê Thế Trung đều được ghi dấu qua những kỷ vật. Đó là: chiếc hộp đựng thức ăn, chiếc kẹp bông là chiến lợi phẩm của Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 thu được của thực dân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954; chiếc Ba lô, tăng, võng ông đã dùng trong kháng chiến chống Mỹ; bộ quần áo ông mặc khi tham gia ca ghép thận đầu tiên tại Việt Nam năm 1992 và ghép gan đầu tiên vào năm 2004.
Những kỷ vật ấy được ông được cất giữ làm kỷ niệm trong căn phòng nhỏ của mình. Ngày 15/7/2004, ông trao tặng cho Bảo tàng Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam làm hiện vật truyền thống. Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Thầy thuốc Nhân dân, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thế Trung sinh năm 1928 tại Lĩnh Nam, Thanh Trì, Hà Nội. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, sau khi học xong trường Bưởi, ông tham gia Mặt trận Việt Minh, rồi gia nhập Vệ quốc đoàn, Năm 1946, ông học lớp y tá Vệ quốc đoàn khóa đầu tiên. Kể từ ngày đó đến nay, ông đã gắn bó cả đời mình với ngành quân y, trải qua hầu như tất cả các cương vị của người cán bộ quân y, trưởng thành từ người y tá đến nhà khoa học đầu ngành. Có nhiều đóng góp lớn lao cho nền y học nước nhà, ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như: Viện trưởng Viện Quân y 103, Giám đốc Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác, Giám đốc Học viện Quân y, Chủ tịch Hội đồng chuyên môn ghép thận, Chủ tịch Hội đồng tư vấn chuyên môn ghép tạng, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Y học thảm họa của Bộ Y tế, ông đã xuất bản 54 đầu sách về nghiên cứu ngoại khoa chung và ngoại khoa dã chiến, phẫu thuật tạo hình, thuốc nam trong điều trị vết thương, vết bỏng, hỗ trợ điều trị ung thư, quy trình ghép thận, phòng chống thảm họa… Hoàn thành 3 đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, 7 đề tài cấp Bộ và 65 đề tài cấp cơ sở. Với những đóng góp to lớn đó, ông đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1978; Thầy thuốc nhân dân năm (1991), đồng tác giả Giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình ghép tạng (2005) cùng nhiều huân, huy chương khác. 
Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Thầy thuốc Nhân dân, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thế Trung. Ảnh tư liệu. Chúng tôi đến thăm ông tại số nhà 01, ngõ 3 Khu tập thể Học viện Quân y (Phúc La, Hà Đông, Hà Nội). Ấn tượng đầu tiên là xung quanh nhà có nhiều cây cảnh, được cắt tỉa rất công phu. Như đọc được suy nghĩ của chúng tôi, ông giải thích rằng đó là tác phong từ thời còn ở chiến trường, luôn sưu tầm các loại cây, cỏ về trồng, vừa nghiên cứu làm thuốc, vừa làm cây cảnh. Giáo sư mời chúng tôi vào nhà trong căn phòng rộng 20m2 trên tầng 3 được ông thiết kế dành riêng làm nơi đặt bàn thờ gia tiên và các vị danh y tiền bối. Trên bàn thờ có bức tượng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Bên cạnh là tủ sách và các kỷ vật như một bảo tàng nhỏ về y học quân sự. Trong đó, có cả những mẫu thuốc đặc trị bỏng mà ông và các đồng nghiệp là tác giả và những công trình khoa học lớn. Lấy những kỷ vật gắn với cả đời làm thầy thuốc, đôi mắt sau tròng kính chăm chú vào chiếc kẹp đang mân mê trên tay. Hồi tưởng lại những ngày tháng “máu trộn bùn non” trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, ông kể rằng khi ấy, nhiệm vụ bảo đảm quân y, điều trị thương bệnh binh trong chiến dịch là một vấn đề cấp bách. Từ cương vị của một y tá Vệ quốc đoàn, đến khi nhận được giấy chứng nhận là “Quân y sĩ” và được điều về làm Phó ban Quân y, rồi Trưởng ban Quân y Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, ông luôn trăn trở về những phương thức điều trị cho thương bệnh binh trong điều kiện chiến trường khan hiếm về thuốc cũng như kinh nghiệm và phương tiện cứu chữa thương bệnh binh. Ngày 13/3/1954, đơn vị tôi tham gia trận mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử ở đồi Him Lam. Chiếc kẹp và hộp đựng thức ăn là chiến lợi phẩm thu được của địch. Thầy thuốc Lê Thế Trung đã sử dụng trong suốt thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, phục vụ cứu chữa chăm sóc sức khỏe cho thương bệnh binh và sinh hoạt công tác của ông. Trong kháng chiến chống Pháp, với trọng trách là Chủ nhiệm Quân y Quân khu Việt Bắc, trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, ông đã hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên “Kinh nghiệm chống sốt rét và điều trị sốt rét tại Tây Bắc”. Công trình đã giúp bộ đội chống chọi với những trận sốt rét ác tính vốn đã quật ngã rất nhiều chiến sỹ, được Cục Quân y đánh giá cao và phổ biến trong toàn quân.
Ba lô và một số vật dụng của Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Thầy thuốc Nhân dân, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thế Trung. Ảnh BTHC. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Cục Quân y nhận định, giặc Mỹ sẽ sử dụng nhiều loại vũ khí sát thương bằng nhiệt như bom napan, bom lân tinh… Vì vậy, Cục quyết định cử ông đi học tại Liên Xô, chuyên ngành điều trị bỏng. Tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa với tấm bằng Xuất sắc ở Học viện Ki-rốp, bác sĩ Lê Thế Trung trở về nước năm 1963 và sáng lập Khoa Bỏng (nay là Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác), là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực này. Khi chiến tranh lan rộng, ông trực tiếp vào chiến trường để khảo sát tình hình và trực tiếp mổ cứu sống hàng trăm trường hợp bị các vết thương hiểm nghèo; hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị cứu chữa thành công các thương binh bị suy mòn do bỏng. Quá trình nghiên cứu điều trị bỏng, ông đã tìm ra 50 loài cây thuốc chữa bỏng, bào chế thành công thuốc điều trị bỏng: Mađuxin (chiết suất từ cây sến mật) và đặc biệt là thuốc B76 (từ vỏ cây sơn tra). Các nghiên cứu, phát hiện của ông được phổ biến rộng rãi và ứng dụng rất hiệu quả, góp phần giảm tỷ lệ tử vong cho bộ đội. Mọi người thường ví “Mỹ có B-52, Bác sĩ Trung có B76”. Đúng năm đất nước giải phóng, ông bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ Y học với đề tài “Nhiễm khuẩn mủ xanh trong bỏng”. Năm 1986 ông tiếp tục bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Khoa học tại Liên Xô với đề tài “Điều trị bỏng trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam”. Rời khỏi cuộc chiến, ông cùng các đồng đội hăm hở bắt tay vào việc tiếp tục xây dựng trường Đại học Quân y, sau đó phát triển lên Học viện Quân y do ông trực tiếp làm Giám đốc. Ông đã sáng lập ra chuyên ngành Bỏng và Viện bỏng Quốc gia, vốn là chuyên ngành khoa học ông nguyện gắn bó suốt đời. Cả đời làm công việc trị bệnh, cứu người, GS. TSKH Lê Thế Trung luôn đề cao và trau dồi y đức. Dù người bệnh là dân thường hay chính khách, chiến sĩ hay tướng lĩnh, ông đều tận tâm, tận lực cứu chữa. Hàng ngàn người đã được ông trực tiếp cứu sống. Trong đó, có bệnh nhân đặc biệt mà ông không thể nào quên, đó là tác giả của Quốc ca, nhạc sỹ Văn Cao với những ca khúc nổi tiếng đã được ông cứu sống tới 2 lần. Ngoài những kỷ vật, các công trình nghiên cứu khoa học của ông, còn có hai bộ quần áo mổ, ông đã mặc và thực hiện thành công các ca ghép tạng đầu tiên của Việt Nam, được trong nước và thế giới khâm phục. Là Chủ tịch đầu tiên của Hội đồng chuyên môn ghép thận, GS. TSKH Lê Thế Trung có mặt cả hai thời điểm quan trọng nhất của ghép tạng Việt Nam, đó là ca ghép thận đầu tiên vào năm 1992 và ca ghép gan vào năm 2004.
GS. TSKH Lê Thế Trung vui mừng cùng các giáo sư, bác sĩ khi thành công ca ghép tạng đầu tiên. Ảnh tư liệu. Dưới sự chỉ đạo của ông, ca ghép thận đầu tiên cho bệnh nhân Lê Thanh Nghiêm vào năm 1992 đã thành công, gây tiếng vang lớn. Đến ca ghép thận thứ hai, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trực tiếp gặp gỡ, động viên kíp mổ và quyết định tặng Bệnh viện một trăm triệu đồng để củng cố, nâng cấp khu nhà mổ phục vụ cho những ca ghép tạng tiếp theo. Ca ghép gan đầu tiên được thực hiện cho bệnh nhân Nguyễn Thị Diệp năm 2004, bị mắc bệnh teo đường mật bẩm sinh, phải thay gan. Trong ca phẫu thuật đặc biệt này, ông đảm trách nhiệm vụ Chỉ huy trưởng kíp mổ. Con trai cả của ông là Đại tá Lê Trung Hải (lúc đó là Phó Giám đốc Ngoại khoa Viện Quân y 103) được giao nhiệm vụ phụ mổ chính cho Bác sĩ người Nhật Bản Mashito Makuchi, người trực tiếp thực hiện ca mổ này. Giới chuyên môn và dự luận đặc biệt quan tâm theo dõi ca mổ. Sau 16 giờ làm việc tập trung, căng thẳng, ca mổ đã thành công tốt đẹp, khi Giáo sư Trung bước ra khỏi phòng mổ thông báo ca phẫu thuật đã hoàn tất với kết quả tốt đẹp, mọi người đã ào đến chúc mừng ông cùng đồng nghiệp. Đến nay, cháu Diệp vẫn khỏe mạnh và học giỏi. Bước sang tuổi thất thập cổ lai hy nhưng Giáo sư Lê Thế Trung vẫn khỏe mạnh, minh mẫn, tiếp tục miệt mài nghiên cứu về lĩnh vực sức khỏe người cao tuổi. Ông vẫn thường xuyên đi tìm các cây thuốc giúp ngăn ngừa các chứng bệnh ở người già, nhất là chữa xơ vữa động mạch, phòng chống bệnh ung thư… Với ông, làm nghề y phải lấy cái tâm, cái đức làm đầu, chứ đừng vì danh. Được trao đổi tiếp xúc với GS. TSKH Lê Thế Trung, điều dễ nhận thấy dường như ông sinh ra là để làm khoa học, trị bệnh, cứu người. Những kỷ vật quý giá mà ông tặng cho Bảo tàng Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam là những hiện vật có giá trị lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của ngành Quân y nói riêng và nền y học của Việt Nam nói chung. Đó là những hiện vật mang tính giáo dục, nhất là về y đức của thầy thuốc luôn tận tâm, tận lực với nghề nghiệp, tích cực nghiên cứu khoa học, trị bỏng cứu người, thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải như người mẹ hiền” hết lòng chăm sóc cứu chữa, nâng đỡ tinh thần cho người bệnh./.Lưu Thị Vân – Bảo tàng Hậu cần

Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Thầy thuốc Nhân dân, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thế Trung. Ảnh tư liệu. Chúng tôi đến thăm ông tại số nhà 01, ngõ 3 Khu tập thể Học viện Quân y (Phúc La, Hà Đông, Hà Nội). Ấn tượng đầu tiên là xung quanh nhà có nhiều cây cảnh, được cắt tỉa rất công phu. Như đọc được suy nghĩ của chúng tôi, ông giải thích rằng đó là tác phong từ thời còn ở chiến trường, luôn sưu tầm các loại cây, cỏ về trồng, vừa nghiên cứu làm thuốc, vừa làm cây cảnh. Giáo sư mời chúng tôi vào nhà trong căn phòng rộng 20m2 trên tầng 3 được ông thiết kế dành riêng làm nơi đặt bàn thờ gia tiên và các vị danh y tiền bối. Trên bàn thờ có bức tượng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Bên cạnh là tủ sách và các kỷ vật như một bảo tàng nhỏ về y học quân sự. Trong đó, có cả những mẫu thuốc đặc trị bỏng mà ông và các đồng nghiệp là tác giả và những công trình khoa học lớn. Lấy những kỷ vật gắn với cả đời làm thầy thuốc, đôi mắt sau tròng kính chăm chú vào chiếc kẹp đang mân mê trên tay. Hồi tưởng lại những ngày tháng “máu trộn bùn non” trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, ông kể rằng khi ấy, nhiệm vụ bảo đảm quân y, điều trị thương bệnh binh trong chiến dịch là một vấn đề cấp bách. Từ cương vị của một y tá Vệ quốc đoàn, đến khi nhận được giấy chứng nhận là “Quân y sĩ” và được điều về làm Phó ban Quân y, rồi Trưởng ban Quân y Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, ông luôn trăn trở về những phương thức điều trị cho thương bệnh binh trong điều kiện chiến trường khan hiếm về thuốc cũng như kinh nghiệm và phương tiện cứu chữa thương bệnh binh. Ngày 13/3/1954, đơn vị tôi tham gia trận mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử ở đồi Him Lam. Chiếc kẹp và hộp đựng thức ăn là chiến lợi phẩm thu được của địch. Thầy thuốc Lê Thế Trung đã sử dụng trong suốt thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, phục vụ cứu chữa chăm sóc sức khỏe cho thương bệnh binh và sinh hoạt công tác của ông. Trong kháng chiến chống Pháp, với trọng trách là Chủ nhiệm Quân y Quân khu Việt Bắc, trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, ông đã hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên “Kinh nghiệm chống sốt rét và điều trị sốt rét tại Tây Bắc”. Công trình đã giúp bộ đội chống chọi với những trận sốt rét ác tính vốn đã quật ngã rất nhiều chiến sỹ, được Cục Quân y đánh giá cao và phổ biến trong toàn quân.

Ba lô và một số vật dụng của Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Thầy thuốc Nhân dân, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thế Trung. Ảnh BTHC. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Cục Quân y nhận định, giặc Mỹ sẽ sử dụng nhiều loại vũ khí sát thương bằng nhiệt như bom napan, bom lân tinh… Vì vậy, Cục quyết định cử ông đi học tại Liên Xô, chuyên ngành điều trị bỏng. Tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa với tấm bằng Xuất sắc ở Học viện Ki-rốp, bác sĩ Lê Thế Trung trở về nước năm 1963 và sáng lập Khoa Bỏng (nay là Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác), là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực này. Khi chiến tranh lan rộng, ông trực tiếp vào chiến trường để khảo sát tình hình và trực tiếp mổ cứu sống hàng trăm trường hợp bị các vết thương hiểm nghèo; hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị cứu chữa thành công các thương binh bị suy mòn do bỏng. Quá trình nghiên cứu điều trị bỏng, ông đã tìm ra 50 loài cây thuốc chữa bỏng, bào chế thành công thuốc điều trị bỏng: Mađuxin (chiết suất từ cây sến mật) và đặc biệt là thuốc B76 (từ vỏ cây sơn tra). Các nghiên cứu, phát hiện của ông được phổ biến rộng rãi và ứng dụng rất hiệu quả, góp phần giảm tỷ lệ tử vong cho bộ đội. Mọi người thường ví “Mỹ có B-52, Bác sĩ Trung có B76”. Đúng năm đất nước giải phóng, ông bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ Y học với đề tài “Nhiễm khuẩn mủ xanh trong bỏng”. Năm 1986 ông tiếp tục bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Khoa học tại Liên Xô với đề tài “Điều trị bỏng trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam”. Rời khỏi cuộc chiến, ông cùng các đồng đội hăm hở bắt tay vào việc tiếp tục xây dựng trường Đại học Quân y, sau đó phát triển lên Học viện Quân y do ông trực tiếp làm Giám đốc. Ông đã sáng lập ra chuyên ngành Bỏng và Viện bỏng Quốc gia, vốn là chuyên ngành khoa học ông nguyện gắn bó suốt đời. Cả đời làm công việc trị bệnh, cứu người, GS. TSKH Lê Thế Trung luôn đề cao và trau dồi y đức. Dù người bệnh là dân thường hay chính khách, chiến sĩ hay tướng lĩnh, ông đều tận tâm, tận lực cứu chữa. Hàng ngàn người đã được ông trực tiếp cứu sống. Trong đó, có bệnh nhân đặc biệt mà ông không thể nào quên, đó là tác giả của Quốc ca, nhạc sỹ Văn Cao với những ca khúc nổi tiếng đã được ông cứu sống tới 2 lần. Ngoài những kỷ vật, các công trình nghiên cứu khoa học của ông, còn có hai bộ quần áo mổ, ông đã mặc và thực hiện thành công các ca ghép tạng đầu tiên của Việt Nam, được trong nước và thế giới khâm phục. Là Chủ tịch đầu tiên của Hội đồng chuyên môn ghép thận, GS. TSKH Lê Thế Trung có mặt cả hai thời điểm quan trọng nhất của ghép tạng Việt Nam, đó là ca ghép thận đầu tiên vào năm 1992 và ca ghép gan vào năm 2004.

GS. TSKH Lê Thế Trung vui mừng cùng các giáo sư, bác sĩ khi thành công ca ghép tạng đầu tiên. Ảnh tư liệu. Dưới sự chỉ đạo của ông, ca ghép thận đầu tiên cho bệnh nhân Lê Thanh Nghiêm vào năm 1992 đã thành công, gây tiếng vang lớn. Đến ca ghép thận thứ hai, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trực tiếp gặp gỡ, động viên kíp mổ và quyết định tặng Bệnh viện một trăm triệu đồng để củng cố, nâng cấp khu nhà mổ phục vụ cho những ca ghép tạng tiếp theo. Ca ghép gan đầu tiên được thực hiện cho bệnh nhân Nguyễn Thị Diệp năm 2004, bị mắc bệnh teo đường mật bẩm sinh, phải thay gan. Trong ca phẫu thuật đặc biệt này, ông đảm trách nhiệm vụ Chỉ huy trưởng kíp mổ. Con trai cả của ông là Đại tá Lê Trung Hải (lúc đó là Phó Giám đốc Ngoại khoa Viện Quân y 103) được giao nhiệm vụ phụ mổ chính cho Bác sĩ người Nhật Bản Mashito Makuchi, người trực tiếp thực hiện ca mổ này. Giới chuyên môn và dự luận đặc biệt quan tâm theo dõi ca mổ. Sau 16 giờ làm việc tập trung, căng thẳng, ca mổ đã thành công tốt đẹp, khi Giáo sư Trung bước ra khỏi phòng mổ thông báo ca phẫu thuật đã hoàn tất với kết quả tốt đẹp, mọi người đã ào đến chúc mừng ông cùng đồng nghiệp. Đến nay, cháu Diệp vẫn khỏe mạnh và học giỏi. Bước sang tuổi thất thập cổ lai hy nhưng Giáo sư Lê Thế Trung vẫn khỏe mạnh, minh mẫn, tiếp tục miệt mài nghiên cứu về lĩnh vực sức khỏe người cao tuổi. Ông vẫn thường xuyên đi tìm các cây thuốc giúp ngăn ngừa các chứng bệnh ở người già, nhất là chữa xơ vữa động mạch, phòng chống bệnh ung thư… Với ông, làm nghề y phải lấy cái tâm, cái đức làm đầu, chứ đừng vì danh. Được trao đổi tiếp xúc với GS. TSKH Lê Thế Trung, điều dễ nhận thấy dường như ông sinh ra là để làm khoa học, trị bệnh, cứu người. Những kỷ vật quý giá mà ông tặng cho Bảo tàng Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam là những hiện vật có giá trị lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của ngành Quân y nói riêng và nền y học của Việt Nam nói chung. Đó là những hiện vật mang tính giáo dục, nhất là về y đức của thầy thuốc luôn tận tâm, tận lực với nghề nghiệp, tích cực nghiên cứu khoa học, trị bỏng cứu người, thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải như người mẹ hiền” hết lòng chăm sóc cứu chữa, nâng đỡ tinh thần cho người bệnh./.Lưu Thị Vân – Bảo tàng Hậu cần



