Những kỷ vật về Đội du kích Bắc Sơn trong những ngày đầu thành lập (1)
những kỷ vật về Đội du kích Bắc Sơn trong những ngày đầu thành lậpTại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện lưu giữ, trưng bày nhiều hiện vật quý gắn với sự ra đời của Đội du kích Bắc Sơn. Trong số đó có nhiều hiện vật thể hiện sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân Bắc Sơn trong những ngày đầu Đội thành lập.
Cho đến tận bây giờ, người dân Vũ Lễ từ già đến trẻ vẫn luôn nhớ ngày tự vệ và quần chúng cách mạng, hàng nghìn người gồm đồng bào các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành khởi nghĩa, đánh chiếm Mỏ Nhài, chiếm châu lỵ Bắc Sơn, thành lập chính quyền cách mạng. Sau đó, thực hiện chủ trương của Hội nghị Trung ương lần thứ VII (11-1940), ngày 14-2-1941, Đội du kích Bắc Sơn chính thức được thành lập tại khu rừng Khuổi Nọi xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Trong số nhiều hiện vật hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam thể hiện sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân Bắc Sơn trong những ngày đầu Đội thành lập, có hiện vật gắn với tên tuổi các đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, được Trung ương Đảng cử về Bắc Sơn tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng, lập ủy ban cách mạng, tổ chức du kích, xây dựng căn cứ; đồng chí Hoàng Văn Thụ, Uỷ viên thường vụ Trung ương Đảng được Trung ương cử đến phổ biến quyết định của Trung ương, trao lá cờ đỏ sao vàng cho Đội du kích Bắc Sơn; Các đồng chí Chu Văn Tấn, Lường Văn Tri những người đã chỉ huy Đội đầu tiên… Đó là những khẩu súng kíp do nhân dân Vũ Lễ tự tạo, sử dụng để tự vệ và săn bắn thú rừng đã đem đến ủng hộ trang bị cho du kích đánh đồn Mỏ Nhài, năm 1940; Bát hương của đình làng dùng giấu công văn, tài liệu, bí mật; Những chiếc nồi đồng là đồ vật quý giá của các gia đình hồi đó, đồng chí Mã Viết Minh, Mã Viết Phấn được gia đình cho mang theo khi gia nhập du kích Bắc Sơn. Các đồng chí đã sử dụng nấu cơm cho du kích tại Khuổi Nọi. Chiếc ấm sành, ấm tích, liễn của ông Dương Công Cao xã Hương Vũ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn dùng đun nước, đựng nước, đựng thức ăn phục vụ các đồng chí: Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thụ, Chu Văn Tấn, Lường Văn Tri… Ngoài ra rất nhiều hiện vật khác như bát, dao nhọn, muôi trai, chày giã gạo, ống bương… du kích Bắc Sơn được nhân dân trang bị, ủng hộ đã sử dụng trong những năm 1940-1941.
Những năm 40 của thế kỷ XX, Vũ Lễ là một xã của châu Bắc Sơn thuộc địa bàn miền núi hiểm trở, đồng ruộng ít, dân cư thưa thớt, hầu hết là đồng bào Tày, Nùng, Dao. Từ lâu, nhân dân nơi đây bị đế quốc, phong kiết bóc lột kiệt quệ, đời sống khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nên việc tiếp tế cho Đội du kích Bắc Sơn rất khó khăn. Trong khi đó kẻ địch ra sức khủng bố nhằm cắt đứt quan hệ về mọi mặt giữa quần chúng với quân “Việt Minh". Mặc dầu vậy, nhân dân Bắc Sơn đã nhịn ăn, nhịn mặc, quyên góp tiền, của ủng hộ Đội du kích Bắc Sơn. Nhà nào có con, có cháu gia nhập du kích, khi đi gia đình có tiền ủng hộ tiền, không có tiền ủng hộ đồ dùng, lương thực, vũ khí. Nhân dân khéo léo tìm cách bắt liên lạc với du kích để lo tiếp tế lương thực, quần áo, thuốc men và đồ dùng cho du kích. Những ngày giá rét, thấy du kích ở hang sâu, gió lạnh, nhân dân cố xe sợi dệt thêm vải may thêm áo cho du kích. Khi thu hoạch lúa, ngô, khoai sắn trên nương, đồng bào giấu trong những “Lóng” đập lúa, cót phơi lúa, trong các hốc cây, dưới rơm rạ, có khi để lại từng khoảnh cho du kích thu hoạch. Đối với các làng bản bị địch khủng bố gắt gao, nhân dân chuẩn bị sẵn lúa gạo, đêm đêm thả xuống gầm nhà sàn để du kích vào lấy đưa về căn cứ. Nhiều người khi đi làm nương, đi lấy củi cho gạo vào túi rồi quấn quanh người, mặc quần áo phủ bên ngoài đem tiếp tế cho du kích. Có người làm ống bương hai ba đốt, đốt đựng nước, đốt trên đục lỗ thủng đựng gạo, muối tiếp tế cho du kích khi vượt qua vọng gác của địch kiểm soát. Bằng trăm phương ngàn kế, dù cho địch o ép, khủng bố, tàn sát nhưng nhân dân một lòng một dạ hướng về Đảng, Bác Hồ, không sợ hy sinh, sẵn sàng đem của cải của mình để ủng hộ, giúp đỡ du kích Bắc Sơn trong những năm tháng đầy cam go.
Những hiện vật ngày ấy, bây giờ được đưa về lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trong đó chứa đựng những yếu tố nội sinh mạnh mẽ, có tác dụng giáo dục truyền thống, lòng yêu nước, lòng tự hào đối với cán bộ, chiến sỹ, nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Thời gian qua đi, chiến tranh qua đi nhưng những hiện vật đó luôn sống mãi với thời gian bởi nó là những vật chứng lịch sử quý giá. Điều đó góp phần chứng minh thắng lợi của các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc ta thành công là do nhân dân hết lòng đùm bọc, giúp đỡ, chở che.
Trần Thanh Hằng
Trong số nhiều hiện vật hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam thể hiện sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân Bắc Sơn trong những ngày đầu Đội thành lập, có hiện vật gắn với tên tuổi các đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, được Trung ương Đảng cử về Bắc Sơn tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng, lập ủy ban cách mạng, tổ chức du kích, xây dựng căn cứ; đồng chí Hoàng Văn Thụ, Uỷ viên thường vụ Trung ương Đảng được Trung ương cử đến phổ biến quyết định của Trung ương, trao lá cờ đỏ sao vàng cho Đội du kích Bắc Sơn; Các đồng chí Chu Văn Tấn, Lường Văn Tri những người đã chỉ huy Đội đầu tiên… Đó là những khẩu súng kíp do nhân dân Vũ Lễ tự tạo, sử dụng để tự vệ và săn bắn thú rừng đã đem đến ủng hộ trang bị cho du kích đánh đồn Mỏ Nhài, năm 1940; Bát hương của đình làng dùng giấu công văn, tài liệu, bí mật; Những chiếc nồi đồng là đồ vật quý giá của các gia đình hồi đó, đồng chí Mã Viết Minh, Mã Viết Phấn được gia đình cho mang theo khi gia nhập du kích Bắc Sơn. Các đồng chí đã sử dụng nấu cơm cho du kích tại Khuổi Nọi. Chiếc ấm sành, ấm tích, liễn của ông Dương Công Cao xã Hương Vũ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn dùng đun nước, đựng nước, đựng thức ăn phục vụ các đồng chí: Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thụ, Chu Văn Tấn, Lường Văn Tri… Ngoài ra rất nhiều hiện vật khác như bát, dao nhọn, muôi trai, chày giã gạo, ống bương… du kích Bắc Sơn được nhân dân trang bị, ủng hộ đã sử dụng trong những năm 1940-1941.
Những năm 40 của thế kỷ XX, Vũ Lễ là một xã của châu Bắc Sơn thuộc địa bàn miền núi hiểm trở, đồng ruộng ít, dân cư thưa thớt, hầu hết là đồng bào Tày, Nùng, Dao. Từ lâu, nhân dân nơi đây bị đế quốc, phong kiết bóc lột kiệt quệ, đời sống khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nên việc tiếp tế cho Đội du kích Bắc Sơn rất khó khăn. Trong khi đó kẻ địch ra sức khủng bố nhằm cắt đứt quan hệ về mọi mặt giữa quần chúng với quân “Việt Minh". Mặc dầu vậy, nhân dân Bắc Sơn đã nhịn ăn, nhịn mặc, quyên góp tiền, của ủng hộ Đội du kích Bắc Sơn. Nhà nào có con, có cháu gia nhập du kích, khi đi gia đình có tiền ủng hộ tiền, không có tiền ủng hộ đồ dùng, lương thực, vũ khí. Nhân dân khéo léo tìm cách bắt liên lạc với du kích để lo tiếp tế lương thực, quần áo, thuốc men và đồ dùng cho du kích. Những ngày giá rét, thấy du kích ở hang sâu, gió lạnh, nhân dân cố xe sợi dệt thêm vải may thêm áo cho du kích. Khi thu hoạch lúa, ngô, khoai sắn trên nương, đồng bào giấu trong những “Lóng” đập lúa, cót phơi lúa, trong các hốc cây, dưới rơm rạ, có khi để lại từng khoảnh cho du kích thu hoạch. Đối với các làng bản bị địch khủng bố gắt gao, nhân dân chuẩn bị sẵn lúa gạo, đêm đêm thả xuống gầm nhà sàn để du kích vào lấy đưa về căn cứ. Nhiều người khi đi làm nương, đi lấy củi cho gạo vào túi rồi quấn quanh người, mặc quần áo phủ bên ngoài đem tiếp tế cho du kích. Có người làm ống bương hai ba đốt, đốt đựng nước, đốt trên đục lỗ thủng đựng gạo, muối tiếp tế cho du kích khi vượt qua vọng gác của địch kiểm soát. Bằng trăm phương ngàn kế, dù cho địch o ép, khủng bố, tàn sát nhưng nhân dân một lòng một dạ hướng về Đảng, Bác Hồ, không sợ hy sinh, sẵn sàng đem của cải của mình để ủng hộ, giúp đỡ du kích Bắc Sơn trong những năm tháng đầy cam go.
Những hiện vật ngày ấy, bây giờ được đưa về lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trong đó chứa đựng những yếu tố nội sinh mạnh mẽ, có tác dụng giáo dục truyền thống, lòng yêu nước, lòng tự hào đối với cán bộ, chiến sỹ, nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Thời gian qua đi, chiến tranh qua đi nhưng những hiện vật đó luôn sống mãi với thời gian bởi nó là những vật chứng lịch sử quý giá. Điều đó góp phần chứng minh thắng lợi của các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc ta thành công là do nhân dân hết lòng đùm bọc, giúp đỡ, chở che.
Trần Thanh Hằng


