Những lá thư sống sót qua bom đạn và ký ức của người lính Thành cổ

Thiếu tướng Cao Xuân Khuông, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 4, sinh năm 1942 tại xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Năm 1960, khi vừa tròn 18 tuổi, ông rời quê hương lên đường nhập ngũ, bắt đầu hành trình nhiều năm gắn bó với những chiến trường khốc liệt của cuộc kháng chiến.

Từ một người lính trẻ, Cao Xuân Khuông từng bước trưởng thành qua nhiều chiến trường như Đường 9 – Khe Sanh, Trị Thiên – Huế, biên giới Lào và Trường Sơn. Những năm tháng chiến đấu trong điều kiện gian khổ, giữa rừng núi hiểm trở và sự truy lùng gắt gao của đối phương đã tôi luyện bản lĩnh và kinh nghiệm chỉ huy của ông.
Trước khi tham gia 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972, ông từng trực tiếp tham gia nhiều trận đánh ở vùng Trị Thiên – Lào, tổ chức phục kích, bảo vệ hành lang chiến lược và giữ vững các tuyến vận tải quan trọng. Những trận chiến ấy góp phần tạo nên một người chỉ huy giàu kinh nghiệm trước khi bước vào một trong những trận chiến khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh.
Năm 1972, Cao Xuân Khuông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8, một trong những đơn vị trực tiếp tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị. Sau khi Quảng Trị được giải phóng ngày 1/5/1972, đơn vị được giao nhiệm vụ giữ Thành cổ trong bối cảnh đối phương liên tục mở các đợt phản kích với cường độ ngày càng lớn.
Suốt 81 ngày đêm, chiến trường Thành cổ trở thành một trong những nơi khốc liệt nhất. Bộ đội phải bám trụ trong những căn hầm ngập nước, đất đá trộn lẫn với máu, liên tục đối mặt với bom pháo và những đợt tiến công dữ dội. Có những thời điểm lực lượng bị bao vây từ nhiều phía, thương vong rất lớn, nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trận địa, chiến đấu cho đến khi nhận lệnh rút quân theo yêu cầu chiến lược.
Đằng sau những trận đánh ác liệt ấy là những câu chuyện rất đỗi đời thường. Có chiến sĩ bị thương vẫn xin được ở lại chiến đấu, có người chưa kịp viết xong lá thư gửi về gia đình đã mãi mãi nằm lại chiến trường. Những lá thư được viết giữa bom đạn đôi khi mất hàng tháng mới đến tay người nhận, thậm chí có những bức thư chỉ đến nơi khi người nhận đã không còn.
Với Cao Xuân Khuông, những lá thư cũng là sợi dây gắn kết ông với hậu phương. Trong những năm chiến tranh, ông và vợ là bà Hoàng Thị Đạm chủ yếu giữ liên lạc với nhau qua thư tay. Họ từng là những người bạn cùng quê, cùng lớp, rồi chiến tranh đưa mỗi người về một nơi. Một người nơi chiến trường, một người ở hậu phương. Những lá thư vì thế trở thành nơi gửi gắm tình cảm, niềm tin và hy vọng giữa những tháng ngày xa cách.
Không chỉ chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị, Cao Xuân Khuông còn nhiều lần hoạt động tại vùng rừng núi Trị Thiên – Lào. Có những thời gian đơn vị mất liên lạc kéo dài, ông cùng đồng đội phải tự tìm đường giữa rừng sâu, ăn củ và lá rừng để duy trì sự sống. Trong những lúc hiểm nguy, đồng bào các dân tộc đã che chở, nuôi giấu bộ đội dù biết rằng nếu bị phát hiện, cả gia đình có thể phải đối mặt với những hậu quả khắc nghiệt.
Trong các chiến dịch, ông trực tiếp chỉ huy nhiều trận phục kích, đánh chặn các cuộc hành quân và truy lùng của đối phương, góp phần giữ vững địa bàn chiến lược Trị Thiên và Tây Quảng Trị. Nhưng khi nhắc về những năm tháng ấy, điều ông nhớ nhất không chỉ là những trận đánh hay chiến công, mà còn là tình đồng đội và nghĩa tình của nhân dân. Đó là những người lính cứu nhau giữa lằn ranh sinh tử, những người dân âm thầm che chở bộ đội và những gia đình chấp nhận hiểm nguy để bảo vệ cơ sở cách mạng.
Sau năm 1975, Cao Xuân Khuông tiếp tục phục vụ trong quân đội, đảm nhiệm nhiều cương vị công tác trước khi nghỉ hưu với quân hàm Thiếu tướng. Trong hành trang của người lính đã đi qua chiến tranh, bên cạnh những kỷ niệm về đồng đội và chiến trường còn có hàng trăm lá thư cũ đã ngả màu theo thời gian. Được lưu giữ qua từng năm tháng, những lá thư ấy như một bảo tàng ký ức, ghi lại một phần cuộc đời của người lính và cả một thời đại đã đi qua.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những ký ức của Thiếu tướng Cao Xuân Khuông vẫn mang giá trị đặc biệt. Qua những câu chuyện về chiến trường, đồng đội, nhân dân và những lá thư gửi từ hai đầu đất nước, người đọc có thể hình dung rõ hơn về một thế hệ đã đi qua bom đạn bằng lòng dũng cảm, niềm tin và tình yêu dành cho quê hương, đất nước.



