Những năm tháng không quên của người con Đa Lộc
Ông Lê Văn Hưng sinh năm 1940 tại xã Đa Lộc, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, cuộc sống gắn liền với những thửa ruộng, con kênh và công việc đồng áng quanh năm. Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã quen với những ngày lao động vất vả, thiếu thốn đủ bề. Tuổi thơ của ông không có nhiều niềm vui trọn vẹn như bao đứa trẻ khác, bởi đất nước lúc bấy giờ còn chìm trong khói lửa chiến tranh, cuộc sống của người dân quê luôn nặng trĩu lo âu và bất
Ông Lê Văn Hưng sinh năm 1940 tại xã Đa Lộc, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, cuộc sống gắn liền với những thửa ruộng, con kênh và công việc đồng áng quanh năm. Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã quen với những ngày lao động vất vả, thiếu thốn đủ bề. Tuổi thơ của ông không có nhiều niềm vui trọn vẹn như bao đứa trẻ khác, bởi đất nước lúc bấy giờ còn chìm trong khói lửa chiến tranh, cuộc sống của người dân quê luôn nặng trĩu lo âu và bất an.
Những năm tháng ấy, quê hương Đa Lộc thường xuyên chịu ảnh hưởng của bom đạn và các cuộc càn quét của địch. Tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời, những lần phải chạy trú ẩn khi bom rơi đã trở thành ký ức khó quên trong tâm trí ông. Ruộng vườn nhiều lần bị tàn phá, cuộc sống vốn khó khăn lại càng thêm cơ cực. Chính trong hoàn cảnh đó, lòng yêu nước và ý chí căm thù giặc xâm lược dần hình thành và lớn lên trong con người ông Lê Văn Hưng, thôi thúc ông khát khao được góp sức bảo vệ quê hương, đất nước.
Năm 1959, khi tuổi đời còn rất trẻ, ông được tập kết ra miền Bắc. Đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông. Xa gia đình, xa quê hương miền Nam thân yêu, ông phải làm quen với môi trường sống mới, khí hậu khác biệt và những buổi huấn luyện vô cùng gian khổ. Dù gặp nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần kiên cường và ý chí quyết tâm, ông nhanh chóng thích nghi và không ngừng rèn luyện bản thân.
Tại miền Bắc, ông được đào tạo, huấn luyện quân sự và trực tiếp tham gia chiến đấu trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Giữa những trận mưa bom bão đạn của giặc Mỹ, đất đá rung chuyển, khói lửa mù mịt, ông cùng đồng đội vẫn kiên cường bám trụ trận địa, không quản hiểm nguy, chiến đấu anh dũng để bảo vệ Tổ quốc. Những ngày tháng nơi chiến trường không chỉ thử thách sức chịu đựng của con người mà còn tôi luyện cho ông bản lĩnh vững vàng, tinh thần dũng cảm và tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó.
Đến năm 1963, ông tiếp tục tham gia chiến đấu tại chiến trường biên giới Việt Nam – Lào. Đây là một mặt trận vô cùng gian khổ với địa hình rừng núi hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt và điều kiện sinh hoạt thiếu thốn. Trong một trận chiến ác liệt với địch, ông bị thương nặng. Vết thương khiến ông phải trải qua quãng thời gian dài điều trị, nhiều lúc tưởng chừng không thể vượt qua. Tuy vậy, trong những ngày nằm trên giường bệnh, ông vẫn luôn hướng về đồng đội nơi tuyến đầu và mong muốn sớm hồi phục để tiếp tục cống hiến cho cách mạng.
Sau thời gian điều trị, do sức khỏe không còn đảm bảo cho việc tiếp tục chiến đấu, ông được tổ chức cho trở về quê hương. Ngày trở lại xã Đa Lộc, ông mang trên mình những vết sẹo chiến tranh – dấu tích của một thời tuổi trẻ đầy hy sinh và gian khổ, là minh chứng sống động cho những năm tháng chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc.
Trở về quê hương, ông Lê Văn Hưng không chọn cuộc sống an nhàn mà tiếp tục tham gia cách mạng tại địa phương. Với tinh thần trách nhiệm cao và uy tín của một người lính từng trải qua chiến trường, ông được giao giữ vai trò Khóm đội trưởng. Ở cương vị này, ông tích cực vận động bà con nhân dân tham gia giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng tinh thần đoàn kết, hỗ trợ nhau trong cuộc sống, góp phần ổn định tình hình địa phương trong những năm tháng sau chiến tranh còn nhiều khó khăn.
Dù trong chiến tranh hay khi đất nước đã hòa bình, ông Lê Văn Hưng luôn thể hiện tinh thần tận tụy, gương mẫu và trách nhiệm với cộng đồng. Cuộc đời ông là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ cha anh trong thời hoa lửa – những con người bình dị nhưng giàu lòng yêu nước, sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ, sức lực vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Câu chuyện về ông không chỉ là niềm tự hào của quê hương Đa Lộc, mà còn là bài học quý giá cho thế hệ trẻ hôm nay: hãy biết trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm và không ngừng phấn đấu để xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.



