Những năm tháng không thể nào quên
Tôi là Bùi Xuân Hồng, sinh năm 1947, quê ở xã Bắc Hồng, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Ngày 16 tháng 4 năm 1968, tôi lên đường nhập ngũ. Tôi được biên chế về Đại đội 45, Tiểu đoàn 2. Đó là thời điểm chiến tranh đang diễn ra vô cùng ác liệt. Cũng như bao thanh niên cùng thế hệ, tôi mang theo trong tim niềm tin rằng tuổi trẻ của mình phải được cống hiến cho Tổ quốc.
Ngay trong năm 1968, đơn vị tôi tham gia chiến đấu tại Khe Sanh. Những ngày ấy, bom đạn phủ kín núi rừng, khói lửa mịt mù. Có những lúc tiếng bom nổ liên tiếp, đất đá rung chuyển dưới chân. Người lính trẻ như tôi khi ấy cũng biết sợ, nhưng nhìn đồng đội vẫn bình tĩnh bám trận địa, tôi lại tự nhủ phải mạnh mẽ để hoàn thành nhiệm vụ.
Đến năm 1971, đơn vị được điều sang làm nhiệm vụ quốc tế tại nước bạn Lào. Những cánh rừng bạt ngàn, những con đường hiểm trở và biết bao gian khổ vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi. Chúng tôi chiến đấu không chỉ vì độc lập của dân tộc mình mà còn vì tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào.
Năm 1972, tôi tiếp tục tham gia chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị. Những ngày ấy là những ngày ác liệt nhất mà tôi từng trải qua. Bom đạn dội xuống ngày đêm, đồng đội có người sáng còn trò chuyện, chiều đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Mỗi lần tiễn một người đồng đội, lòng tôi quặn thắt, nhưng tất cả đều động viên nhau tiếp tục tiến lên, bởi phía trước là khát vọng hòa bình của cả dân tộc.
Niềm hạnh phúc lớn nhất của đời lính là được chứng kiến ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Sau bao năm chiến đấu, chúng tôi ôm chầm lấy nhau giữa niềm vui vỡ òa. Bao nhiêu máu xương của đồng đội đã đổ xuống cuối cùng cũng đổi lấy ngày Bắc – Nam sum họp một nhà.
Sau một tháng, tôi trở về phục viên tại quê hương. Nhìn lại chặng đường đã đi qua, tôi thấy mình thật may mắn vì còn được trở về với gia đình, trong khi nhiều đồng đội đã mãi mãi ở lại chiến trường.
Trong những năm tháng quân ngũ, tôi vinh dự được tặng nhiều phần thưởng như Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Huân chương Chiến sĩ giải phóng cùng nhiều bằng khen, giấy khen khác. Mỗi tấm huân chương đối với tôi không chỉ là niềm tự hào mà còn là lời nhắc nhớ về những người đồng đội đã hy sinh, về một thời tuổi trẻ đầy gian khổ nhưng rất đỗi vinh quang.
Có một kỷ niệm mà đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in.
Khi mới vào đơn vị, tôi được phân công làm cảnh vệ cho Tham mưu trưởng. Sau đó, tôi được điều xuống Đại đội Bộ binh thuộc Tiểu đoàn 2 làm nhiệm vụ liên lạc. Công việc của người lính liên lạc rất vất vả. Mỗi lần có mệnh lệnh, tôi phải băng qua bom đạn để chuyển thông tin đến các đơn vị. Có khi vừa đi vừa nghe tiếng máy bay gầm rú trên đầu, chỉ mong mình đến nơi an toàn để mệnh lệnh được truyền đi kịp thời.
Sau đó, tôi lại được điều sang Sư đoàn C6 tiếp tục làm liên lạc rồi quay trở về Tiểu đoàn 2. Mỗi lần thay đổi đơn vị là một lần làm quen với đồng đội mới, nhiệm vụ mới, nhưng tinh thần của người lính thì vẫn vậy: ở đâu Tổ quốc cần thì ở đó có chúng tôi.
Đặc biệt, trong thời gian làm nhiệm vụ tại Lào, tôi có cơ hội được làm việc và phục vụ một vị tướng. Đó là một kỷ niệm rất đáng nhớ trong cuộc đời quân ngũ của tôi. Tôi học được ở người chỉ huy ấy sự bình tĩnh, bản lĩnh và tình thương yêu chiến sĩ. Những bài học ấy đã theo tôi suốt cuộc đời.
Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ. Mái tóc tôi giờ đã bạc, nhưng mỗi khi nhớ lại những năm tháng ấy, ký ức vẫn hiện lên rõ ràng như mới hôm qua. Tôi nhớ đồng đội, nhớ những cánh rừng Trường Sơn, nhớ Khe Sanh, Quảng Trị, nhớ những đêm hành quân không ngủ và nhớ cả những người đã mãi mãi không trở về.
Nếu hỏi tôi điều gì quý giá nhất sau những năm tháng chiến tranh, tôi sẽ nói đó là hòa bình. Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng tuổi xuân, bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ. Vì thế, tôi luôn mong các thế hệ trẻ sẽ biết trân trọng cuộc sống hôm nay, giữ gìn và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh để những sự hy sinh ấy không bao giờ là vô nghĩa.
Đó là ký ức của một thời hoa lửa mà tôi sẽ mang theo suốt cuộc đời.



