Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NHỮNG NGÀY ĐÁNG NHỚ

Sinh năm: 4/1938 Quê quán và thường trú: Chi Phong, Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình Điện thoại: 030.3621229 Cán bộ Kỹ thuật Viện Thiết kế, Bộ GTVT vào Quân đội Nguyên Chuẩn uý, Tổ trưởng, Đội Khảo sát Công binh, Trợ lý Phóng Công trình Cục Tham mưu Công binh 559, Bộ Tư lệnh 559 Chuyển ngành về lại Viện Thiết kế, Bộ GTVT

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ


Đại đội phó Khảo sát Nguyễn Vĩnh giao nhiệm vụ cho tôi, Nguyễn Ngọc Sửu và Chu Tân Đạt hành quân về Quảng Nam xuống sát đường 14.

Anh bảo lần này các đồng chí đi khảo sát tìm đường phục vụ chiến dịch sẽ gặp nguy hiểm, khó khăn gian khổ. Theo diễn biến của chiến trường, Ban chỉ huy Mặt trận sẽ giao nhiệm vụ cụ thể. Đại đội cũng chỉ biết thông tin tối thiểu. Chúc các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ, nhanh chóng trở về đại đội.


Tôi thay mặt anh em hứa vượt mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Ngay ngày hôm sau, ba anh em đã lên đường. Đường về Quảng Nam tương đối xa, nên đê có mặt đúng ngày hẹn, chúng tôi phải hành quân vượt trạm giao liên.

Xuống gần đường 14, không khí chiến trường càng sôi sục, nóng bỏng. Nhiều đơn vị trang bị mạnh, hồ hởi, phấn khởi trùng trùng ra trận. Hoà vào đoàn quân, ba anh em, ba chiếc ba lô, ba dao quắm, ba khẩu súng, hai chiếc nồi và ít gạo cũng... đi chiến dịch.

Trên đường đi, chúng tôi gặp đội quân tóc dài chuyên gùi thồ - Tiểu đoàn Nam Hải anh hùng, các chị đều là nữ thanh niên đất Quảng. Vì quá gian khổ nên chị nào cũng xanh xao gầy yếu. Tiêu chuẩn một ngày chỉ hơn một lon gạo, thức ăn chủ yếu là rau rừng và mắm muối. Các cô bị ruồi vàng, muỗi, sâu, vắt cắn, nhiều cô chân tay nổi sần và lở loét. Sức mạnh nào đã thôi thúc để các cô có thể gùi những kiện hàng nặng vượt qua vực sâu, núi cao, bất chấp mưa gió, bom đạn? Thật đáng khâm phục các cô gái đất Quảng kiên cường dũng cảm, có sức chịu đựng phi thường. Những gùi hàng trên lưng các cô là thuốc men, đạn được, sẽ vượt qua đường 14 chuyển xuống đồng bằng. Lúc bình thường các cô gùi hàng, lúc chiến đấu các cô lại là chiến sĩ tải thương, nuôi quân, bên cạnh các đơn vị.


Không một trang sách, một bức ảnh, một thước phim nào có thể ghi lại sức chịu đựng phi thường, tinh thần dũng cảm của Tiểu đoàn Nam Hải anh hùng. Tuổi thanh xuân của các cô đã bỏ lại chiến trường, bỏ lại trên rừng núi, tiêu tan trong gian khổ. Hoà bình trở lại yên vui cho mọi người. Đến hôm nay ai mất ai còn, chồng con, gia đình họ ra sao?


Ngày 06 tháng 4 năm 1968, đến địa điểm tập kết, liên lạc dân chúng tôi vào sở chỉ huy Trung đoàn 10. Ở đó chúng tôi được gặp Tư lệnh Quân khu 5, Sư đoàn phó Sư đoàn Bộ binh và một số cán bộ cao cấp khác.

Tư lệnh trưởng Quân khu trực tiếp giao nhiệm vụ cho chúng tôi cùng Trung đoàn 10 kéo đài đường B46 thọc vào đường 14, và theo toạ độ đánh dấu trên bản đồ, tìm các đường kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa chuẩn bị nhả đạn vào Khâm Đức.

Đồn Khâm Đức là một cứ điểm mạnh án ngữ trên đường 14, phía tây tỉnh Quảng Nam, chặn đường vận tải của chúng ta. Cấp trên đã ra lệnh đánh nhổ đồn Khâm Đức. Trước lúc lên đường Tư lệnh còn chỉ thị thêm, đường phải kín, ít khối lượng, loại đường quân sự làm gấp. Vạch tuyến đến đâu trinh sát Trung đoàn 10 nhận đến đó để triển khai ngay. Trong quá trình tìm tuyến, gặp địch đông phải tránh, gặp địch ít, nếu có điều kiện bắt sống về khai thác. Tuyệt đối phải bí mật, cùng đi với các đồng chí có trinh sát Trung đoàn 10.


Tìm tuyến là nghiệp vụ thông thường của lính khảo sát. Dẫn tuyến ra sát đường 14, gặp bãi cỏ gianh, định vạch cỏ làm dấu. Bất ngờ ba chiếc trực thăng ào ào bay sát mặt đường, chúng tôi trông thấy lính Mỹ đứng ở cửa máy bay, tay lăm lăm khẩu súng. Chúng bay ra đồn Khâm Đức, bay vòng trở lại bắn mấy loạt đạn rồi hạ cánh.


Chúng tôi vào rừng tìm đường kéo pháo. Một cụm pháo là một đường riêng biệt vì vậy cũng khó và tốn nhiều thời gian. Trinh sát Trung đoàn 10 gan lì và rất mạo hiểm, dẫn chúng tôi vào gần đồn, nghe rõ tiếng chó sủa, tiếng vợ lính chửi nhau, tiếng bửa củi và tiếng léo nhéo của bọn con gái. Tôi rất sợ song vẫn bình tĩnh, mọi cử chỉ đều nhẹ nhàng không phát ra tiếng động. Tôi nghĩ nếu gặp bọn thám báo lúc này sẽ nguy hiểm. Tôi nhớ có ngày luồn rừng không thổi cơm được, ăn lương khô, uống nước suối rất xót ruột, nôn nao. Nhớ mãi một đêm không ngủ trong vòng kiểm soát của địch phải chuyển chỗ ở hai lần, trinh sát Trung đoàn 10 canh gác suốt đêm, tôi không tài nào ngủ được, thao thức trăn trở chờ trời sáng, đêm đó sao mà dài. Không ngủ nên nghĩ miên man, nhớ mẹ, nhớ người yêu, nghe rõ tiếng giun dế, tiếng gió, tiếng suối róc rách, đếm được từng loạt đạn.


Hoàn thành nhiệm vụ trở về Trung đoàn 10, chúng tôi được lệnh lùi ra xa, chuẩn bị hầm hào đề phòng tình huống xấu nhất. Khi ta đánh đồn Khâm Đức địch có thể đổ bộ, dùng máy bay oanh tạc, dùng B52 rải thảm, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu khi cần.

Quãng 21 giờ đêm ngày 12 tháng 4 năm 1968 có lệnh phát hoả đánh Khâm Đức. Súng nổ liên hồi rung chuyên núi rừng, máy bay gầm rú xé không khí, bom rung chuyển mặt đất, lửa đạn sáng bầu trời, nhiều tiếng nổ lớn.

Chúng tôi thao thức, không tài nào chợp mắt, chờ tin chiến thắng. Vào 18 giờ ngày 13 tháng 4 năm 1968, liên lạc Trung đoàn 10 đưa thư của Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho chúng tôi trinh sát đường 14 từ phía nam vượt qua đồn Khâm Đức về phía bắc đến ngã ba đường 14 và 16, liên lạc với trinh sát trung đoàn quân Giải phóng, địa điểm liên lạc cách cầu Đắc My từ 50 đến 100 mét về phía đông.


Suốt cả ngày 13 tháng 4, máy bay quần đảo ném bom B52 rải thảm, sáng ngày 14 tháng 4 năm 1968 đã phải lên đường vào nơi nguy hiểm. Tôi hơi sợ, đúng hơn là bồn chồn, song vẫn to ra cứng rắn bình tĩnh. Tôi viết vài dòng kẹp vào pin đài, rồi gửi lại chiêc đài bán dẫn Standard cho đơn vị. Nếu có mệnh hệ gì thì đồng đội sẽ chuyên chiếc đài về cho mẹ. Sáng 14 tháng 4 trời mưa như trút nước, đoàn chúng tôi gồm ba khảo sát và 6 trinh sát Trung đoàn 10 đội mưa lên đường.


Lần mò ra đến bờ sông, nước sông đã lên to, chảy xiết, nhưng dù thế nào cũng phải vượt qua sông. May quá, nhìn về hạ lưu thấy có chiếc bè, bỏ cả súng đạn, ba lô, quần áo lên mặt bè bám vào bè đẩy ra sông. Nước sông chảy xiết quá, người và bè trôi về hạ lưu, gặp chỗ nước cạn, vật lộn với dòng nước chảy xiết, cuối cùng cũng sang được sông. Men theo bờ sông lên đường 14 - hướng về Khâm Đức.


Máy bay địch lồng lộn ném bom bắn vu vơ chặn đường, chúng tôi phân tán, vừa đi vừa ẩn nấp. Ngày 14 tháng 4 chỉ ăn lương khô, uống nước suối, mắc võng bìa rừng nằm chờ...

Sáng 15 tháng 4 tiếp tục lên đường, quãng 10 giờ, gặp đơn vị công binh, chúng tôi vào bếp nhờ nấu cơm. Đến đây mới biết khi ta đánh Khâm Đức, địch chống cự yếu ớt và dùng trực thăng rút chạy. Mỹ chạy trước, nguỵ chạy sau, cuối cùng là... vợ con lính. Hiện còn một số không chạy kịp đang lẩn trốn trong rừng. Chúng tôi tiếp tuc tiến vào Khâm Đức, cách đồn hơn 1 ki lô mét thì máy bay đến oanh tạc, từng quả bom đen trũi bay qua đầu. Đồn Khâm Đức bốc cháy khói bụi ngút trời, đạn nổ liên tục. Sau đợt ném bom, chúng tôi vào đồn, lúc đó mưa to, sấm sét ầm ầm. Mưa tạnh dần, chúng tôi vào khu gia binh, nhà cửa tan hoang, đồ đạc vứt bừa bãi, ngổn ngang.


Quá 13 giờ ngày 15 tháng 4, chúng tôi vào trung tâm đồn Khâm Đức. Đồn rất rộng, có sân bay, nhà thờ, miếu thờ, câu lạc bộ, nhà chứa gái điếm, nhà công chính quản lý đường 14. Trong đồn hầm hào rất kiên cố, chúng tôi như lạc vào một phố nhỏ giữa rừng núi đã tan hoang vì bom đạn. Gặp bộ đội ta đang khẩn trương, vội vã thu dọn chiến trường, thu chiến lợi phẩm. Tàn quân địch lần lượt ra hàng. Bộ đội băng bó, phát thuốc cho lính Ngụy bị thương, phát lương thực, giấy tờ, khuyên họ về nhà làm ăn, bỏ hàng ngũ địch, một số giác ngộ, tự nguyện gia nhập quân Giải phóng.


Nhiều nơi trong đồn vẫn bốc cháy, khét lẹt khói bom như còn lẫn mùi tanh của máu. Rút chạy bằng máy bay nên xe pháo địch bổ lại hầu như nguyên vẹn. Mỹ lại dùng máy bay ném bom hòng tiêu huỷ. Trong đồn, hầm hào rất kiên cố. Máy bay ném bom, bộ đội xuống hầm trú ẩn, ngớt tiếng bom lại ra khỏi hầm làm nhiệm vụ. Chúng tôi thấy bộ đội ta nghi binh, rút binh khí kỹ thuật của địch vào rừng, làm binh khí giả lừa địch để khi có điều kiện thì mang ra sử dụng, trong đó có mấy chiếc máy húc, mấy chiếc xe ben, xe lu sơn màu vàng.


Hàng chiến lợi phẩm rất nhiều, chúng tôi lấy một ít thuốc lá, cà phê, đường sữa, thịt hộp, bánh kẹo, lương khô, và phải khẩn trương vượt khỏi đồn, tránh máy bay địch đến ném bom.

Ra bìa rừng phía bắc, gặp được hầm kiên cố, mọi người xuống hầm nghỉ đêm và nấu cơm chiều, nắm cả cơm sáng. Tôi nhắc anh em, không nên ăn nhiều bánh kẹo, đường sữa, sợ đau bụng ngày mai không đi được.

Đang chuẩn bị ăn cơm, 10 máy bay trực thăng ầm ầm bay qua hạ cánh xuống phía bắc, có khả năng địch đã đổ bộ chặn đường 14. Trước tình hình đó tôi họp anh em củng cố tinh thân, quyết tâm tìm phương án vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ. Căn dặn các đồng chí khảo sát, ngày mai dao quắm cầm tay, gặp địch đánh giáp lá cà thì dùng giao để chém. Tôi quan sát thấy đồng chí Sửu sờ vào lưỡi giao xem còn đủ sắc không.

Đêm 15 tháng 4, bộ đội ta đã dùng mìn phá công sự và sân bay, đề phòng địch đổ bộ chiếm lại Khâm Đức, tiếng nổ ầm ầm suốt cả đêm, một đêm chờ đợi... Sáng 16 tháng 4 năm 1968, 9 người chúng tôi chia làm ba tổ đi cách nhau khoảng 20 mét. Tổ đồng chí Sửu đi đầu, tổ tôi đi giữa, tổ đồng chí Đạt đi cuối.


Đường 14 đã được rải nhựa nhưng lau lách mọc sát lề đường. Một số quân địch và gia đình chúng chạy bộ rút về phía Bắc, do chạy vội nên giày dép trẻ em, quần áo, mũ nón, cả đạn dược rơi bừa bãi.

Đi được một quãng thì máy bay đến ném bom vào Khâm Đức - B52 rải thảm vào rừng. Máy bay OV10 lượn vòng trinh sát, vừa đi vừa ẩn nấp, vừa cảnh giác đề phòng địch tập kích. Chúng tôi cũng không biết 10 máy bay đã đổ quân ở đâu, dự đoán khả năng trước mặt có địch đang chặn đường.


Quãng 15 giờ, đến ngã ba thứ nhất, tôi phán đoán đây không phải ngã ba đường 10 vì sông Đắc My còn ở xa đường 14. Tôi ra lệnh đi tiếp. Đến ngã ba thứ hai, tổ đi đầu dừng lại ẩn vào lề đường cảnh giới. Tôi ra hiệu cho đồng chí Sửu tiến về phía cầu Đắc My. Tổ tôi cũng sẵn sàng chiến đấu yểm hộ khi có tình huống xấu, tổ sau cùng cũng vậy. Nhân lúc máy bay OV10 vòng ra xa, tôi tiến sát ngã ba cùng tổ đồng chí Sửu vượt qua cầu Đắc My. Hai đầu cầu rất trống trải, nguy hiểm. Hai nhóm chúng tôi nhanh chóng vượt qua cầu, tiến về phía đông 30 mét, đã gặp ngay các đồng chí trinh sát Trung đoàn Bình Minh ra đón. Vui mừng phấn khởi đến trào nước mắt. Số còn lại vẫn cảnh giác, lần lượt từng người vượt qua cầu. Cùng lúc đó 10 máy bay trưc thăng hạ cánh hôm qua cất cánh, có lẽ chúng chở tàn quân và vợ con lính lẩn trốn trong rừng. Tôi nhìn lại cầu Đắc My là cầu bê tông còn rất nguyên vẹn.


Trinh sát Trung đoàn Bình Minh dẫn chúng tôi về vị trí đóng quân của Trung đoàn. Tôi báo cáo tình hình cầu đường, các vị trí có thể giấu xe máy. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa các chiến sĩ khảo sát và trung đoàn quân Giải phóng Quân khu 5. Trung đoàn sắp xếp chỗ ăn ở cho chúng tôi.


Sáng 17 tháng 4... vẫn đội hình như cũ, chúng tôi hành quân trở lại Khâm Đức, đến ngã ba suýt nữa thì đồng đội bắn nhầm nhau. Đồng chí Thảng, Tham mưu phó Trung đoàn 10 dẫn bộ đội truy quét vùng ngã ba. Thoáng thấy chúng tôi, đồng chí tưởng là biệt kích, đã bố trí phục sẵn để tiêu diệt gọn, gần đến ngã ba, chờ đến gần hơn, lọt hắn vào vòng vây mới cho nổ súng...


Một phút nghi ngờ. Trong giây lát đồng chí Quý nhận ra chúng tôi. Anh hô to cho trinh sát Trung đoàn và các đồng chí khảo sát cùng nghe tiếng. Thủ trưởng Thảng cũng thét lên tất cả dừng tay rời vị trí. Anh nhảy ra ôm lấy tôi. May quá, may quá, suýt nữa bắn nhầm nhau, các đồng chí được nhận mỗi người một giấy báo tử. Bộ đội từ các bụi lau lách cũng nhảy ra đường.


Gặp đồng chí Thảng chúng tôi rất yên tâm, vì đã có lực lượng đủ mạnh, có người chỉ huy giỏi. Đi trên đường 14 một quãng, đồng chí Thảng dẫn chúng tôi vào rừng theo đường tắt về lại Trung đoàn. Tôi báo cáo kết quả công việc với thủ trưởng Trung đoàn 10 Đinh Hào. Trung đoàn trưởng nhẹ nhàng hỏi thêm một số chi tiết. Hình như sau khi gặp chúng tôi Trung đoàn Bình Minh đã báo cáo về Ban chỉ huy mặt trận - hai Trung đoàn cũng đã điện đàm trao đổi những vấn đề cơ bản.


Ba anh em chúng tôi được nhận phần thưởng bằng chiến lợi phẩm do Trung đoàn 10 cấp. Sáng 20 tháng 4 năm 1968, chúng tôi trơ về đại đội. Qua đường B46, con đường đã in nhiều vết xe tăng, xe xích, xe vận tải hạng nặng. Trước khi đánh đồn Khâm Đức, công binh đã cấp tốc làm đường. Đánh xong đồn Khâm Đức, ta tổ chức một đợt vận chuyển lớn binh khí, kỹ thuật xuống đường 14 và 16, chuẩn bị cho các trận đánh tiếp theo. Trong chiếc công chung đó, Đại đội khảo sát I Công binh và ba chúng tôi đã có vinh dự đóng góp.


Trên đường về chúng tôi gặp tổ khảo sát anh Đinh Kiện đang thị sát đường phía nam sông Bạc. Đồng đội gặp nhau giữa rừng trong gian khổ và bom đạn mừng vui không tả hết.

Tôi lấy thuốc lá thơm, chiến lợi phẩm mời các đồng chí, bỏ cà phê hoà tan và đường vào bi đông lắc lắc mời các anh uống. Tôi tặng anh Kiện một chiếc bút bi ba màu. Anh Kiện hỏi: Các cậu lấy đâu ra của này? Tôi trả lời: Đây là chiến lợi phấm chúng em thu được khi trinh sát đường phục vụ chiến dịch đánh đồn Khâm Đức. Tôi kể rành rọt từng chi tiết cho các đồng chí nghe.


Anh Đinh Kiện bảo: Các cậu nên ghi những ngày đáng nhớ đó vào nhật ký. Nếu hy sinh, quyển nhật ký đó sẽ được gửi về cho bố mẹ và người thân. Họ sẽ biết những ngày gian khổ chúng ta đã sống ở Trường Sơn, biết được những con đường ta đã khảo sát. Chiến tranh kết thúc, nếu còn sống, con cháu đọc những dòng nhật ký đó, biết ông cha chúng đã cống hiến như thế nào trong chiến tranh chống Mỹ. Về già đọc nhớ lại những ngày sáng chói và vinh quang. Đinh Kiện cười thật thà nhưng hóm hỉnh.

Một ngày đầu năm 2005, tôi trông cháu để các con và nhà tôi ra đồng chăm bón lúa.

Ông bưu tá xã đến nhà mời tôi nhận quà, ông trao cho tôi một gói nhỏ giống gói bánh quy, tên người gửi là Hoàng Ngọc Châu. Cháu nhỏ đòi bóc ngay, tôi cũng muốn mở ra xem anh Châu gửi cái gì. Gói quà chỉ có lá thư và một quyển sách. Vì không phải bánh kẹo nên cháu bắt vạ đòi ông mua kẹo. Tôi dỗ cháu không nín, đành phải ra quán mua kẹo.


Cháu vui vì có kẹo, ông vui đã có quyển "Bước chân vạn dặm" do các đồng chí cựu binh Khảo sát thiết kế Trường Sơn viết. Quyển sách đã khơi dậy trong tôi những ngày gian khổ ở Trường Sơn, nhớ lại những con đường mà tôi cùng đồng đội đã khảo sát, nhớ những trận mưa rừng, nhớ cơn sốt rét rừng, nhớ lại chiến trường xưa.


Tôi vô cùng thương tiếc các đồng chí đã hy sinh, nhớ rõ nét mặt và dáng dấp đồng chí Vĩnh, đồng chí Cư, đồng chí Tuân và nhiều đồng đội khác. Tôi bồi hồi nhớ lại bóng dáng tôi cùng đồng chí Sửu, đồng chí Đạt qua cầu Đắc My năm xưa.

Lục tìm cuốn nhật ký đã úa vàng còn lưu giữ 40 năm trước đây, thời gian đã qua lâu song còn rõ nét chữ. Những dòng trên đây, tôi rút từ tập nhật ký tôi đã viết theo lời động viên của anh Đinh Kiện. Tôi muốn giữ lời anh Đinh Kiện động viên năm nào, làm đầu đề bài viết: "Những ngày đáng nhớ!".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn