Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐI TÌM HƯỚNG TUYẾN VƯỢT HẢI VÂN

Sinh năm: 1944 Quê quán: Tiến Thuỷ, Quỳnh Lưu, Nghệ An Thường trú: Nhà 30, H3A, Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân, Hà Nội Điện thoại: 04.38543239 - 0983.341502 Cán bộ Kỹ thuật Bộ GTVT chuyển sang Quân đội Nguyên Thiếu uý, Đại đội trưởng Cầu phà Binh trạm 14 Bộ Tư lệnh 559 Nguyên Phó Giám đốc Công ty Tư vấn và Xây dựng Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 26 tháng 6 năm 1997, khi đang chỉ đạo khảo sát Dự án 3 xa lộ Bắc - Nam (sau này là đường Hồ Chí Minh) ở khu vực Thừa Thiên - Huế, tôi nhận được lệnh phải tổ chức ngay một tổ thị sát để tìm hướng tuyến không đi chung qua hầm Hải Vân, theo chỉ đạo của Đặc phái viên Chính phủ Đồng Sỹ Nguyên và Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo Nhà nước về công trình Xa lộ Bắc - Nam.


Hải Vân là một phần của giải Trường Sơn trùng điệp với các đỉnh núi cao hàng ngàn mét sừng sững án ngữ suốt chiều dài 70 ki lô mét từ biên giới Việt Lào đến bờ biển, chia cắt Thừa Thiên - Huế với Quảng Nam - Đà Nẵng.

Hiện tại, hai tuyến giao thông xuyên Việt là quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Thống Nhất đều tập trung ở điểm nút Hải Vân. Đây là điều bất lợi về mặt quân sự, cần phải tìm con đường khác cho đường Hồ Chí Minh. Liệu có đưa hướng tuyến của Xa lộ Bắc - Nam lên phía tây để dãn nút Hải Vân? Đây là câu hỏi đặt ra cho tư vấn Trường Sơn phải trả lời trước Bộ Giao thông vận tải trong thời gian ngắn nhất.


Để giải đáp câu hỏi này, tôi tổ chức một tổ thị sát gồm ba người: tôi, anh Phan Bá Liêm, anh Phạm Văn Đăng và bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị. Việc đầu tiên là nghiên cứu các phương án tuyến trên bản đồ. Chúng tôi đưa ra ba phương án vượt Hải Vân, cách nhau khoảng 10 - 15 ki lô mét:

- Phương án 1: qua Bạch Mã - Mũi Trâu

- Phương án 2: qua đèo 900 ở khoảng giữa

- Phương án 3: qua đèo 880 ở phía tây

Để thị sát 2 phương án đầu, chúng tôi dùng xe ô tô kết hợp với đi bộ, lội suối, cắt rừng. Bằng mọi cách, mọi hướng để tiếp cận, quan sát cho được các điểm không chế, xác định, vẽ lên bản đồ.

Để thị sát phương án thứ 3, chúng tôi chọn hướng đi từ Hiên ra Nam Đông. Ngày 01 tháng 7 năm 1997, từ Nam Đông xe quay ra Đà Nẵng để lên Hiên theo Tỉnh lộ 604. Đến Trung Mang thì xe bị hỏng. Lái xe khắc phục đến tối mịt vẫn không được. Đêm ấy, 4 anh em căng màn ngủ trước nhà Bưu điện Trung Mang. Nửa đêm, trời đổ mưa, mọi người lục tục soi đèn căng áo mưa che chắn. Cô nhân viên bưu điện phát hiện, bật đèn mời vào nhà nhưng thấy bất tiện, cánh lính từ chối. Sáng hôm sau, tôi quyết định thay đổi phương án: Anh Đăng cùng cậu Khoái - lái xe, ở lại tìm cách khắc phục rồi quay ra Nam Đông chờ. Tôi cùng anh Liêm bắt xe ngoài lên thị trấn Trao.


Buổi chiều, chúng tôi vào làm việc với UBND huyện Hiên để báo cáo về mục đích chuyến đi và xin được sự giúp đỡ của địa phương. Chúng tôi tìm hiểu địa hình và lên kế hoạch thị sát. Huyện đội cử đại uý Hùng cùng đi. Đêm ấy hai anh em ngủ lại nhà khách uỷ ban, chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho chuyến đi bộ ngày hôm sau.


Sáng 03 tháng 7 năm 1997, chúng tôi lên đường. Văn phòng uỷ ban huyện cho một chuyến xe U-oát để đỡ quãng đường phải đi bộ. Đây là con đường Trường Sơn năm xưa, từ Trao đi A Tép và vòng qua đất Lào về Bù Lạch - A Đớt của huyện A Lưới. Đi được 9 ki lô mét thì xuống xe, bắt đầu đi bộ. Lội qua sông A Vương theo đứng con đường mòn và các vật chuẩn mà anh Chánh văn phòng UBND huyện đã chỉ dẫn, chúng tôi tìm vào được UBND xã A Vương. Lúc này là 9 giờ.


Văn phòng UBND xã A Vương là một căn nhà tranh ba gian hoang vắng, nằm trơ trọi bên sườn đồi. Không một bóng người. Cạnh hồi nhà buộc một con trâu đang thở phì phò. Ngó qua phên nứa, phía trong có một tủ đứng, một chiếc bàn rộng với hai ghế băng dài mốc meo bụi bặm. Ở gian trái, treo một chiếc sàn bằng nứa, trên úp vài cái nồi, mươi bộ bát đĩa. Tất cả những vật đụng đó coi như đủ "tiện nghi" cho vài người làm việc và ăn ngủ qua đêm. Đây là Văn phòng của UBND xã A Vương, huyện Hiên. Có đến đây mới thấy cơ sở vật chất của một xã miền núi còn đơn sơ và thiếu thốn biết chừng nào!


Chẳng biết hỏi ai, và cũng chẳng có ai mà hỏi. Đến 10 giờ 15 phút thì một phụ nữ người dân tộc khoác chiếc gùi sau lưng bước vào. Chị có dáng người đậm và đen. Không biết nên đoán tuổi chị khoảng 30 hay 40 từ khuôn mặt khắc khổ của người phụ nữ. Chị nhìn chúng tôi bình thản như người không có cảm xúc, nhưng chúng tôi thì mừng hẳn vì ít ra cũng có người để hỏi. Đoán là khách đến làm việc, chị tự giới thiệu chị là Chi hội trưởng phụ nữ xã, hôm nay đến phiên trực. Chị bảo vừa phải đi bộ hơn 10 cây số từ nhà đến đây, mệt lắm! Không ai khác, chị chính là người chúng tôi đã gặp trên đường đi khi vừa ra khỏi thị trấn Trao được vài cây số. Lúc gặp xe, chị có vẫy xin đi nhưng hình như lái xe không để ý. Giá như biết chị đi trực thì chúng tôi đã mời lên xe. Đại uý Hùng giới thiệu với chị về đoàn công tác. Tôi báo cáo mục đích chuyến đi và xin phép được hoạt động trên địa bàn của xã. Chị viết cho tôi mấy chữ, giá trị như giấy giới thiệu để liên hệ khi vào bản. Rồi chị hướng dẫn đường đi, dặn vào bản gặp ai... Lúc này cái chất cán bộ của chị mới được bộc lộ. Chia tay chị, chúng tôi mang theo ấn tượng về một cán bộ phụ nữ miền núi thầm lặng, chân thật và thiệt thòi.


Đội hình hành quân lúc này gồm bốn người: cậu thanh niên địa phương mà chúng tôi vừa gặp nhờ dẫn đường, khoác ba lô đầy chăn màn và lương thực đi trước. Anh Liêm cầm địa bàn và dao phát đi sau. Tiếp đến là tôi với tấm bản đồ thường trực trên tay và chiếc máy ảnh đeo lủng lắng bên hông. Đại uý Hùng mang khâu AK đi sau cùng. Vừa đi vừa quan sát địa hình, đối chiếu với hướng tuyến đã vạch trên bản đồ.


Đi được khoảng 5 ki lô mét, tôi bắt đầu thấy đau khớp gối chân phải. Sợ mọi người lo lắng, tôi lặng lẽ chặt một cây rừng làm gậy, tiếp tục đi. Đến bờ suối, có bãi đá mát mẻ, cả đoàn nghỉ ăn trưa, chớp nhoáng rồi lại hành quân. Kinh nghiệm đi đường cho thấy càng nghỉ nhiều càng ngại đi. Khoảng 5 giờ chiều thì gặp một bà cụ đang lom khom mò cá dưới suối, biết là sắp đến bản. Đi thêm chừng vài cây số thì tới một bản nhỏ có 6, 7 nóc nhà.


Đang ngồi trong nhà trưởng bản thì cụ già mà chúng tôi vừa gặp ngoài suối đi qua, ông trưởng bản bô bô một tràng bằng tiếng dân tộc. Chúng tôi không hiểu gì, chỉ đoán chắc ông hỏi về chuyện mò cua bắt cá. Rồi ông quay sang nói với chúng tôi bằng tiếng Kinh không sõi:

- "Nó là dũng sĩ diệt máy bay Mỹ ngày trước!".

Thế nó bao nhiêu tuổi ?" - Tôi hỏi.

"Năm mươi, bằng mình thôi mà" - ông trưởng bản đáp.

Hoá ra chưa bằng cái tuổi 53 của tôi. Bất chợt tôi nghĩ đến "năm tuổi" của mình. Hồi Tết, tôi tự nhủ là năm nay sẽ không đi đâu xa cả. Năm 49 tuổi, tôi phụ trách thi công trên đường Bắc Thăng Long - Nội Bài. Ngồi trên chiếc Bò Ma chở cát, cậu Cường lái xe không quan sát, giương thùng Bel lên, móc vào đường cáp điện mà không biết, cứ thế vừa đổ cát vừa chạy làm đứt cáp nổ toé lửa, khiếp mãi... Từ đó, tôi tự dặn mình nhớ để đến tuổi 53 mà phòng. Thế mà bây giờ lại đang ở đây, chân đang đau!


Nghe ông trưởng bản nói mà tôi không thể nào tin nổi. Một bà già lam lũ, gầy khô như que củi thế kia lại có một thời oanh liệt - dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ! Đúng là dân tộc Việt Nam, ra ngõ gặp anh hùng!

Lúc này, sau một ngày lặn lội, cả bốn chúng tôi đều thấm mệt. Chặng đường còn lại hơn 30 ki lô mét, chắc chắn không thể đi trong một ngày. Đại uý Hùng, người của huyện đội cử đi xin được quay lại với lý do là chặng đường ngày mai năm ngoài địa bàn quản lý, không thuộc đường đi. Cậu thanh niên dẫn đường cũng bỏ cuộc vì kêu mệt, mặc dù chúng tôi đã động viên và hứa sẽ cho đi thăm quan cố đô Huế khi về đến Nam Đông.


Đang lo lắng thì may sao được một thanh niên có tên Châu Văn Mười nhận sẽ đi dẫn đường. Mười nói là có biết con đường mòn từ đây đi Nam Đông, lâu ngày không ai đi, chắc đã lấp khuất nhưng có thể vẫn còn dấu vết. Tìm hiểu, biết cách đây khoảng 3 ki lô mét trên đường đi còn có hai nóc nhà của người cùng bản, tôi quyết định đi lấn, đêm nay sẽ ngủ ở đó. 3 cây số đối với chúng tôi lúc này phải lê từng bước, thế mà một lũ trẻ con lít nhít, đầu trần chân đất, có đứa chỉ mỗi cái quần xà lổn, mũi thò lò, người đen thui thủi, bám theo chúng tôi đến tận bản trong. Rồi chúng lại mò mẫm quay về trong màn đêm chập choạng.

Mờ sáng, lại cơm đùm, cơm vắt, tiếp tục chặng đường thứ hai. Vẫn là công việc nghiên cứu, đối chiếu địa hình, chấm từng chặng đường hành quân lên bản đồ. Nhích dần từng tí, từng tí một. Đường mòn rậm rạp, đôi chỗ còn dấu vết nhưng phải phát hoặc cứ vạch lá, xô ào mà đi. Khổ nhất là gặp đám cây gai, áo quần, khăn mũ cứ bị níu giật lại. Những bụi lách, cỏ gianh sắc lẹm, sơ ý một chút là đứt tay chảy máu hoặc bị cứa vào cổ buốt lạnh, gai cả người.


Xế trưa thì đến một thung lũng nhỏ. Bắt gặp dấu vết của một bãi đóng quân. Rất nhiều hố cá nhân đã bị phủ lấp, vỏ hộp han gỉ vất ngổn ngang. Hố bom và mảnh đạn dọc đường đi. Châu Văn Mười bảo đây là địa bàn ém quân của Sư đoàn ông Nguyễn Chơn ngày trước!


Khoảng 4 giờ chiều thì gặp con suối. Mé bờ suối là một cái lán sơ sài, không còn mái lợp, chắc là của dân đi rừng.Lúc này cả ba đã thấm mệt nên quyết định nghỉ lại. Tôi đau khớp chân đã đành, anh Liêm cũng khó mà đi tiếp bới từ trưa đã phải cởi bỏ quần dài để đi cho dễ vì không chịu được cọ xát vào đùi.


Đặt ba lô, cởi bỏ hết những gì vướng víu trên người, nghỉ một lát rồi cả ba bắt tay vào công việc. Tôi và Châu Văn Mười lo cơm nước, anh Liêm chuẩn bị chỗ nằm. Lán là cái khung lều có sẵn, chỉ sửa lại và che ni lông. Còn chỗ nằm là lá chuối rừng xếp thật dày, vừa chống ẩm, vừa dễ chống vắt.


Ăn cơm xong cũng vừa 6 giờ. Giờ này ở trong rừng đã âm âm tối. Cả nhóm chia nhau đi lấy thêm củi, chất đầy bếp mà đốt, vừa ấm, vừa sáng, lại nóng đất, vắt không vào. Tất cả đều từ kinh nghiệm đi rừng mà có. Không biết làm gì, cả ba đi nằm sớm. Anh Liêm mang được cái đài Trung Quốc, bắt sóng yếu nhưng cũng có còn hơn không.


Chuyện tào lao một lát rồi lần lượt lịm dần lúc nào không biết. 3 giờ sáng tôi tỉnh dậy. Cái đài hết chương trình nhưng ngủ quên không tắt, cứ lạo xạo, lạo xạo. Bầu trời đầy sao. Gió nhẹ nhưng cũng đủ gây cảm giác rờn rợn khi nghĩ đến một cành mục không may rơi trúng lán! Ngủ rừng sợ nhất là nằm dưới cành khô. Rồi lại nghĩ nhỡ có con hổ nào đó đi ăn đêm.... Bất chợt tôi lại nhớ đến chuyến đi bộ trên đất Lào cách đây 22 năm.


Hồi ấy, vào tháng 4 năm 1983, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ đi thị sát để lập dự án xây dựng cho nước bạn Lào tuyến đường ô tô từ Phôn Xa Vẳn đến Khăm Cớt, nối quốc lộ 7 với quốc lộ 8. Tôi phụ trách đoạn đầu. Theo lịch trình phải đi bộ theo tuyến đường ôtô cũ trong vùng rừng hẻo lánh từ Xiêng Khoảng đến Tha Thôm dài 110 ki lô mét. Đoàn gồm 7 người: Tôi, anh Phạm Văn Đăng - thủy văn, anh Võ Thắng - địa chất và anh Cao Đình Hòa - khảo sát kiêm phiên dịch. Tỉnh đội Xiêng Khoảng cử hai sĩ quan cấp úy, súng đạn đầy đủ làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn và một người Lào dẫn đường. Hồi ấy, bên Lào, phỉ hoạt động rất mạnh, thoắt ẩn thoắt hiện, phỉ lẫn vào dân, ban đêm muốn đi ngoài phải mang cả súng ngắn và không dám bật đèn pin. Ngày thứ nhất đi được hơn 20 ki lô mét thì hạ trại giữa rừng. Bếp được đặt ngay trên đoạn rãnh dọc, đấy được coi là sáng kiến của Cao Đình Hòa. Nhưng khi cơm vừa cạn thì bất ngờ gặp cơn mưa rào, nước ào qua rãnh, bếp tắt ngấm, phải che áo mưa để đốt lửa. Đêm ấy, thay vì hai sĩ quan Lào thay nhau canh gác, bảo vệ như nhiệm vụ được giao thì họ lại ngủ "khì" từ chập tối. Thế là bộ đội Việt Nam đành phải chia nhau gác thay vậy. Đến ngày thứ 3, chân anh Đăng bị phồng rát, chống gậy lê từng bước. Tôi bảo cứ nằm lại bản, tuần sau đoàn quay ra sẽ đón nhưng anh Đăng không dám ở một mình, phải lẽo đẽo đi theo.


Hôm nay thì đến lượt tôi đau khớp. Tôi đi bộ nhiều nhưng chưa từng đau như thế này bao giờ.

Đến 5 giờ sáng thì khua nhau dậy. 6h30 lên đường. Đây là chặng cuối, địa hình còn khó khăn gấp bội. Gần trưa thì tới chân đèo. Bắt đầu từ đây đường dốc ngược. Anh Liêm trèo lên cây cao quan sát, xác định được yên ngựa đèo 880. Thế là tập trung phát, mở lối lên. Trời nắng ong ong. Rừng im phăng phắc, không một ngọn gió. Cái nóng mới oi ả làm sao. 12h trưa thì tới đỉnh đèo. Đây là ranh giới 2 tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam. Từ đây nhìn xuống chỉ thấy nhấp nhô bạt ngàn rừng núi. Dãy núi cao lờ mờ xa xa phía Tây kia lả biên giới Việt - Lào. Còn đám bãi bằng trước mặt, như Châu Văn Mười nói là nơi trú quân của Sư đoàn Nguyễn Chơn... Nhìn đoạn đường đi qua mà sợ. Nhìn đoạn đường phía trước còn sợ hơn. Tôi tranh thủ ghi vải kiểu ảnh, nơi mà cả đời người chỉ đến được một lần, đánh dấu đỉnh đèo và hướng tuyến lên bản đồ. Xong, lại tiếp tục hành quân.


Sườn phía Đông dốc ngang hun hút. Lúc này, khớp gối phải của tôi đau nhói tưởng không thể đi tiếp, có thể do thay đổi tư thế từ leo lên sang leo xuống. Chiếc gậy mòn vẹt đầu, mỗi lần trượt chân, cả người lao dúi dụi. Loay hoay mãi mới chọn được tư thế đi dễ chịu: tôi ngồi xuống, nghiêng người thả từng bước, theo kiểu sâu đo. Chậm nhưng chắc và đỡ đau. Khi đang lên dốc thì thở cả bằng tai, cứ nghĩ là xuống dốc sẽ đỡ...


Đi mãi rồi cũng xuống được chân đèo, triền núi thoải hơn và gặp ngay con suối A-Ro. Những tảng đá to trơn lỳ chồng gối lên nhau, chứng tỏ mùa lũ ở đây nước đổ ầm ào. Đây là một nhánh thượng nguồn sông Hương. Dòng sông Hương hiền hoà và thơ mộng được tiếp nước từ những dòng thác hung dữ thế này đây.


5 giờ chiều, trời mưa tầm tã, cũng là lúc quãng đường còn lại dễ đi hơn, lác đác đã gặp dân đi nương rẫy. Chập tối thì về đến đội 9 của Nông trường Nam Đông. Vừa hỏi thăm tìm được vào nhà ông Trưởng thôn, chưa kịp rửa chân tay thì nghe nói, cách đây 2 ki lô mét có chiếc xe con của bộ đội đang chờ, thế là chúng tôi chào gia đình đi luôn. Ra đến nơi thì đúng là xe anh Đăng chờ sẵn. Lúc này là 8 giờ tối ngày 05 tháng 7 năm 1997. Bây giờ mới biết, để đưa được xe vào đây, anh Đăng đã bị dân quân chặn hỏi nhiều chặng. Chả là những ngày này các địa phương đang bầu cử hội đồng nhân dân các cấp. An ninh nghiêm ngặt lắm, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Lấy thế là quân đội, anh Đăng tìm vào nhà đồng chí Chủ tịch xã xin được ở nhờ cho yên tâm.


Sáng hôm sau, chúng tôi chia tay Châu Văn Mười tại ngã ba La Sơn trên quốc lộ 1A. Cảm ơn người thanh niên Kà Tu tốt bụng! Tôi bắt xe cho anh vào Đà Nẵng, để lên Hiên và sau đó sẽ lủi thủi cuốc bộ về nhà. Nghĩ đến quãng đường anh quay về mà thấy ái ngại.


Nghĩ đến những bản làng mà chúng tôi đã đi qua, mới thấy dân mình, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã chịu nhiều hy sinh mất mát, một lòng đi theo cách mạng. Vậy mà hơn 20 năm sau ngày miền Nam giải phóng, cuộc sống của đồng bào tuy đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn vất vả quá! Giá như có được con đường cho đồng bào đỡ khổ!


Thế là sau 10 ngày vất vả, chúng tôi đã thị sát xong ba phương án tuyến. Ngày 20 tháng 7 năm 1997, tư vấn Trường Sơn báo cáo với Bộ Giao thông vận tải về kết quả thị sát ba phương án tuyến không đi chung hầm Hải Vân, với kết luận: ý tưởng mở con đường thứ hai nối huyện Nam Đông của Thừa Thiên - Huế với huyện Hiên của Quảng Nam về phía tây Hải Vân là phù hợp với lợi ích quốc phòng. Tuy nhiên, do địa hình hêt sức khó khăn, không nên xây dựng tuyến xa lộ Bắc - Nam qua đây, trước mắt chỉ nên nâng cấp tuyến đường cũ qua Bạch Mã, đèo Mũi Trâu để hỗ trợ cho tuyến phía Đông qua khu vực hầm Hải Vân.


Sau này, anh Hà Đình Cẩn - Tổng Giám đốc Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh (nay đã nghỉ hưu) nghe loáng thoáng ở đâu câu chuyện về chuyến đi thị sát của chúng tôi, ngỡ ba con người: chị Chi hội trưởng phụ nữ xã, dũng sỹ diệt máy bay Mỹ và người dẫn đường cho chúng tôi đi tìm tuyến là một, nên đã điện thoại cho tôi, nhờ liên lạc tìm lại nhân vật đó để anh chắp nối cho Đài truyền hình Việt Nam thực hiện cầu truyền hình trưc tiếp trong dịp Tết Ất Dậu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐI TÌM HƯỚNG TUYẾN VƯỢT HẢI VÂN | Câu chuyện thời hoa lửa